gototopgototop

huy_hieu_doan_tncs_hcm WELLCOME TO TRUNG ĐOÀN E207

PHÁC THẢO LÍNH TRUNG ĐOÀN 207 - QK 8

  • PDF.

Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, chạng vạng, đám mây, ngoài trời, nước và thiên nhiên

                                                                                                                                   Chiều trên cánh đồng ấp Đá biên - xã thạnh phước- Thạnh Hóa, Tỉnh Long an - ảnh Hồ tĩnh tâm 2012

PHÁC THẢO "LÍNH 207" MỜI CÁC BẠN ĐỌC

PHẦN 1.
Đang nằm chong mắt trên cái võng dù Liên Xô mắc giữa hai cây điều lộn hột, thốt nhiên Oanh nghe tiếng ai đó nói oang oang như lệnh vỡ, “có ai biết cái cậu gì tên Oanh to như con gấu ngựa ở đâu không? Tớ tìm đỏ mắt nãy giờ mà đéo biết hắn ở đâu. Hình như hắn dân Hải Dương, lính bên văn phòng trung đoàn bộ mới tăng cường về mấy hôm nay”. Tự nhiên nghe giọng nói rổn rảng ấy, Oanh thấy vui vui, nên ngồi nhỏm ngay dậy, cũng nói to không kém. “Tôi là Oanh Hải Dương đây. Lính văn phòng trung đoàn bộ mới về đây. Anh là ai mà tìm tôi vậy?”. Oanh vừa dứt lời thì thấy ánh đèn pin bật sáng lên, chiếu thẳng vào mắt anh chói loà. Rồi thì cái giọng oang oang ấy lại vang lên một cách hồ hởi. “Đúng rồi. Đúng cái cậu đô con như gấu ngựa này rồi. Hồi sáng mới nhìn thấy cậu vác bao gạo, tớ đã mê tít thò lò, đã muốn làm quen, nhưng mấy thím quân y đang cầu viện, tớ không thể không đến, giờ mới đi tìm cậu đây. May quá! Thế là gặp được rồi. Coi như tớ vớ được vàng, tớ đéo có ngu mà vứt đi đâu. Giới thiệu luôn nhé! Tớ tên Nguyễn Bá Thiệu, C trưởng C2, quê chính gốc Thuỷ Nguyên Hải Phòng, lính gộc từ 1968 đây”. Rồi vừa nắm lấy dây võng lắc lắc, Thiệu vừa nói. Lão Hai Mai đồng ý cho tớ chọn một người về làm A trưởng A hoả lực, bởi vậy nhìn thấy cậu là tớ mê ngay. Sức cậu mà vác nòng cối 82 chạy vù vù thì đố ma nào đuổi kịp. Tớ mê cậu là vì thế. Cậu về làm A trưởng hoả lực cho tớ nhé! Sau này hoà bình, về quê tớ, tớ nói mẹ tớ gả em gái tớ cho cậu. Đảm bảo nó đẹp nhất làng đấy. Đảm nhất làng đấy. Con gái Thuỷ Nguyên ngon như bánh dày kẹp chả lụa, cậu thấy nó không mê tít thò lò, tớ chớ kể làm người. Năm nay nó đã mười sáu rồi. Hai năm nữa hoà bình thống nhất, cậu về cưới nó là vừa vặn. Mẹ kiếp! Giống tốt như cậu, nó cứ là đẻ phún ra hàng đàn lính chiến nhản hiệu 207. À, mà lúc đó còn đếch thằng Mẽo nào nữa mà đánh, cứ cho chúng đi làm công nhân cảng Hải Phòng tất tần tật. Tha hồ mà lập trường vô sản nhé! Tha hồ mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội nhé. Nào, hút với tớ điếu Sa Mít nào! Tớ có đem theo cả bi đông trà Củ Măng đây. Bắt tay cái nào! Coi như từ nay cậu đã là em rễ của tớ đấy.

Oanh vốn là người ít nói xưa nay, người mắc bệnh lầm lầm lì lì, nói cái gì cũng thận trọng, làm cái gì cũng thận trọng, nhưng không hiểu vì sao, chỉ mới gặp Nguyễn Bá Thiệu lần đầu, anh tự nhiên thấy mình linh hoạt hẳn lên, cứ y như thể anh đang bị một trường lực sinh học hấp dẫn và lôi kéo tuột vào từ trường của anh ấy. Oanh cảm thấy buồn cười. Em gái Thiệu năm nay mới chớm tuổi mười sáu, vậy mà thiệu nói cứ như chém tay vào đá, đóng đinh vào cột, rằng cô ấy đẹp nhất làng. Mẹ khỉ, Oanh đã đến Hải Phòng bao giờ đâu mà biết gái Thuỷ Nguyên ngon như bánh dày kẹp chả lụa cơ chứ; nhưng cứ con gái hơn hớn tuổi trăng rằm là chắc chắn phải đẹp rồi. Ở làng Oanh, lúc Oanh lên đường vào chiến trường B2, con gái cũng thừa mứa hàng đống, lại toàn những cô đang phơi phới xuân thì, da trắng như hoa bưởi, má mịn như hồng đào, đôi môi cứ mọng lên như như quả nhót chín đỏ, cặp mắt thì long la long lanh, lúng la lúng liếng, chạm phải anh nào, anh đó bị cứa đứt tim ngay tắp lự. Nhưng họ có ngon như bánh dày kẹp chả lụa hay không thì Oanh đâu có biết. Học xong lớp mười, được đưa luôn vào đại học Y, đang học dở dang năm thứ ba thì có lệnh gọi nhập ngũ, trong đầu toàn chữ nghĩa, chứ có biết cái ấy nó đen trắng, to nhỏ, dọc ngang thế nào. Cái ông Thiệu này ghê thật. Đem ngay cái ấy ra mà mời mọc. Cũng vui đấy. Nhưng phải vác cái nòng cối 82 ly thì vui thế nào được. Nặng bỏ xừ đi ấy chứ. Nhỡ như thua trận, quân hồi vô phèng, vác cái nòng cối to đùng đoành thì có mà chạy thoát đằng trời. Oanh đang định nói ra điều ấy, thì Thiệu đã lại oang oang. “Sáng mai cậu đến thẳng luôn chỗ tớ, tớ ưu tiên cho cậu chọn A phó. Vậy là xong nhé! Sáng mai nhé! Giờ tớ phải đi đây. Nói thật nhé. Đêm nay tớ phải tranh thủ tiếp cận mục tiêu, mấy khi lính bộ binh được ở gần với mấy cô quân y trung đoàn đâu. Nói thật với cậu nhé. Ngần này tuổi đầu, tớ có biết cái ấy nó thế nào đâu. Chỉ hy vọng đêm nay được rờ một cái cho biết. Chưa đầy hai tuần nữa là hành quân vào chiến dịch rồi”.

Chỉ có vậy mà đêm hôm ấy Oanh cứ trằn trọc mãi, không tài nào nhắm mắt được. Anh nhớ về lớp Y K12. Nhớ chong chong. Nhớ quay quắt. Nhớ cồn cào. Nhớ về ngày sơ tán lên vùng đồi trung du. Chẳng học hành gì cả. Mỹ đã tuyên bố sẽ ném bom trở lại Miền Bắc. Chúng rêu rao, chuyến này sẽ nghiền nát thủ đô Hà Nội, sẽ đưa cả Miền Bắc trở về thời đồ đá, sẽ cho cộng sản Bắc Kì biết thế nào là sức mạnh của không lực Hoa Kỳ. B52 đã bắt đầu gieo bão ở Quảng Bình. Tàu ma đốc hạm đội 7 đã bắt đầu nả pháo vào các vùng biển Miền Trung. Nhà trường chỉ lo sơ tán, chứ còn lấy đâu ra thời gian mà lo tổ chức học hành cho sinh viên. Trong mấy tuần chờ đợi ấy, sinh viên chia ra từng toán nhỏ, ở trọ trong nhà dân. Oanh và Hùng ở trọ trong nhà bà Hoanh. Nhà bà Hoanh chỉ có bà Hoanh gần tám mươi tuổi sống với cô con dâu tên Quế. Quế hơn Oanh và Hùng hai tuổi, nhưng đã là kế toán hợp tác xã, bí thư chi đoàn xã, khẩu đội trưởng khẩu đội 12ly8 của du kích xã. Lại còn là thợ cày, thợ cấy, thợ gặt, là xã viên giỏi của hợp tác xã. Cả ngày cô phải làm việc quần quật ngoài nương, ngoài đồng, phải thay ca trực chiến trên đồi. Ấy vậy mà cứ về tới nhà là nghe cô véo von, “đất anh hùng giái đảm việc thay trai xung phong”. Quế vừa hát vừa băm bèo, thái chuối, vừa hát vừa ủn lửa rơm nấu nướng, vừa hát vừa guồng tay kéo nước từ giếng lên. Nhiều lúc ngồi ôm cuốn sách của Socorat ở cuối hiên nhà, nhìn Quế vừa làm việc thoăn thoắt vừa hát véo von, Oanh cũng lấy làm ngạc nhiên lắm. Chẳng biết cô gái mồ côi chồng này lấy đâu ra mà nhiều sức lực thế không biết. Chồng hy sinh ngoài mặt trận, đã có giấy báo tử về làng, anh ấy mặc quân phục, đội mũ kê pi ngồi nghiêm nghị trên bàn thờ, vậy thì cô ấy vui về nỗi gì, lạc quan về điều gì cơ chứ. Đất nước có biết bao nhiêu chàng trai nối theo nhau lên đường ra trận, làng xóm cứ phờ phạc cả ra, xơ xác cả ra; đi tới đâu cũng chỉ thấy toàn đàn bà, con gái, mà hầu hết họ đều là đàn bà xa chồng, goá chồng cả, vậy thì có gì để mà hát cả ngày được cơ chứ. Có lần Oanh đã đem điều thắc mắc ấy nói với cái Thuỷ cùng lớp. Thuỷ nhìn anh, hấp háy đôi mắt rồi hỏi lại. “Vậy chứ không hát thì khóc à?’. Ừ nhỉ. Chúng ta chủ trương tiếng hát át tiếng bom mà. Khổ quá, cực quá, vất vả quá, thì phải cất tiếng hát lên cho quên đi mọi chuyện. Nhưng hát cũng là lao động, cũng hao tốn công lực trong người, có khi còn tốn gấp đôi gấp ba công lực dành cho việc cày cấy hái gặt ấy chứ. Phải có một điều gì sâu kín hơn, thiêng liêng hơn, ẩn chứa đâu đó trong con người những người đàn bà nông dân này, mới có thể giúp họ cất lên được những tiếng hát hồn nhiên và trong sáng đến vậy. Chắc chắn phải có điều gì đấy thần bí lắm, mà khoa học về bệnh lý học, sinh lý học, chưa chạm được đến phần sâu thẳm sức mạnh của con người.

Vào một ngày trời mưa tầm tả, khi Hùng mượn được cái xe phượng hoàng, tranh thủ đạp xe về quê dưới Thường Tín, Oanh ngồi nhà một mình gặm lại bài giải phẫu sinh lý học, thì bất ngờ Quế từ dưới bếp bưng lên cho anh một bát xôi lạc đầy vun hãy còn bốc khói, nói một cách nhẹ nhàng, “Oanh ăn với chị bát xôi nhé, nếp rồng đấy”. Oanh đặt cuốn sách xuống mặt bàn, vừa đỡ lấy bát xôi vừa nói cám ơn. Quế nhìn Oanh cười rất lạ, lắc lắc đầu nói. “Có bát xôi mà cám ơn gì. Thấy Oanh ở nhà một mình, sợ Oanh buồn nên Quế thổi xôi ăn cho vui. Mà Oanh đang học bài hay đang đọc truyện đấy?”. Oanh chẳng nói gì, chỉ đưa cuốn giải phẫu sinh lý học cho Quế. Quế cầm cuốn sách lên, lật lật từng trang, đến trang có hình minh hoạ phần kín của phụ nữ, cô thoáng đỏ mặt, vừa cười vừa nói, “đúng là sinh viên y khoa có khác, cái gì cũng học kĩ nhỉ?”. Nói xong Quế khẽ khàng đặt cuốn sách xuống bàn, xoay người bước ra khỏi cửa, đi ngay xuống bếp. Chiều hôm ấy, lần đầu tiên Oanh không hề nghe Quế hát lấy một câu nào, Có thể do trời mưa mà Quế buồn chăng. Ai trong đời mà chẳng có những lúc buồn cơ chứ. Và dường như nỗi buồn cũng có trường lực lây lan thì phải. Tự nhiên khi đêm xuống, Oanh cũng thấy buồn sũng cả người. Anh bỏ không xem bài, mà mở cuốn Ai Van Hô ra đọc. Đọc mãi. Đọc mãi. Đến đoạn nàng Rê Béc Ca bị đem thiêu trên giàn lửa, thốt nhiên Oanh nghe có tiếng Quế gọi vọng ra từ trong buồng của chị. “Oanh ơi! Oanh ơi! Vào giúp bắt con rết giùm Quế với!”. Oanh vặn ngọn lửa đèn to hơn, cầm lên bước vào buồng của Quế. Oanh vừa bước qua ngạch cửa, Quế đã đưa tay đỡ lấy cây đèn, nói rất nhỏ. “Con rết to lắm. Quế thấy nó chui vào trong chăn ấy. Phải tìm trong chăn mới bắt được”. Cái chăn trải dài lùm lùm trên cái giường đôi khá rộng. Oanh khéo léo nhẹ nhàng lật lên tìm, nhưng càng tìm càng không thấy con rết đâu cả. Anh nói với Quế. Có khi nó chạy xuống đất rồi chị ạ, để em soi đèn dưới gầm giường xem. Nghe Oanh nói vậy, Quế liền nói rất nhỏ. Chưa đâu, Quế vừa thấy nó chui vào chăn mà. Hay Oanh leo lên giường, tìm kĩ chỗ giáp vách tường xem, có khi nó chui nép vào chỗ kẹt giường đấy. Ngoan ngoãn như một đưa học trò, Oanh trèo ngay lên giường, bò lồm cồm đến chỗ mép giường giáp với bức tường gạch, đã loang lổ những mảng vôi vửa tróc ra, mọc rêu xanh rì. Lập tức Quế cũng cầm cây đèn dầu trèo lên giường, lồm cồm bò theo. Cô một tay chống giường, một tay giơ cây đèn dầu ngang mặt, nói với Oanh. Anh xem, hay là nó chui vào trong vỏ gối rồi. Oanh xoay mặt lại. Trời ạ, mặt hai người như muốn chạm vào nhau, nghe rõ cả hơi thở gấp gáp, nóng hôi hổi của người phụ nữ. Dưới ánh đèn cháy rưng rức, cả bầu ngực căng vồng của người phụ nữ hiện ra màu hồng phấn, trủng xuống một đường thâm thẩm giữa hai gò bồng đảo. Trong lúc Oanh còn choáng váng bởi sự bất ngờ choáng ngợp, giọng Quế bỗng cất lên bồng bềnh như vọng về từ một nơi nào xa lắm. Oanh ơi, Oanh cứ lột cái vỏ gối ra sẽ thấy, Quế đã khóc đến ướt đầm, đến gần mục nát cái gối này ra từ gần hai năm nay đấy. Oanh có hiểu cho Quế không? Tất nhiên là Oanh hiểu. Oanh hiểu hết. Oanh hiểu chỉ cần nấn ná trên giường thêm chỉ vài giây thôi, Oanh sẽ thành kẻ có tội với người liệt sĩ đang ngồi nghiêm nghị trên bàn thờ nhìn anh mỗi ngày. Ngọn lửa đang thiêu đốt trong Oanh, chắc chắn cũng đang bùng cháy ngùn ngụt trong lồng ngực người phụ nữ goá chồng hãy còn rất trẻ. Chỉ vài giây, vài giây trên cái giường này nữa thôi, Oanh sẽ không còn là Oanh nữa, Oanh sẽ là kẻ có tội với người đã hy sinh ngoài mặt trận. Lấm lét như một đứa bé trót ăn trộm trứng gà nhà hàng xóm, Oanh vội vàng tụt nhanh xuống giường, bước nhanh ra khỏi cửa buồng. Bên ngoài trời vẫn mưa, vẫn mưa; đêm vẫn bủa vây mịt mùng, mịt mùng.

Tiếng còi trực ban vang lên lảnh lói. Lệnh chuẩn bị tập hợp hành quân sau mười lăm phút. Liên lạc tiểu đoàn chạy đến báo, Oanh phải xuống ngay C2 sau mười phút. Thắt xanh tuya rông vào lưng, đeo túi exe lên ngực, cuốn nhanh cái võng dù, Oanh hối hả xách súng chạy theo tay liên lạc, vừa chạy vừa nghĩ, có chuyện gì thế này, mới bốn giờ sáng đã có lệnh tập hợp hành quân, đây là đất bạn, đánh đấm gì ở đây mà khẩn cấp vậy cơ chứ. Mẹ nó, cả đêm mình cứ trằn trọc mãi, đã ngủ được chút nào đâu, kiểu này, sáng ra mắt sẽ díp lại như đeo đá, lại vừa đi vừa ngủ gà ngủ gật cho mà xem. Khi vừa đến nơi, Oanh đụng ngay C trưởng Nguyễn Bá Thiệu. Anh Thiệu nói chỉ vừa đủ cho Oanh nghe. Đang gấp, sáng mai tớ sẽ giới thiệu cậu với A hoả lực, giờ cậu đi cùng với tớ. Lệnh trung đoàn là trưa mai phải có mặt ở Tà Nu. Cậu biết Tà Nu ở biên giới chứ? Cả một “thành phố” đấy. Sầm uất còn hơn cả Mai Sưu Grát nơi cậu từng đóng quân ở Hà Bắc. Thôi, đi nào! Đi!

Đại đội hàng dọc, kéo dài như con rắn, uốn éo trườn theo con đường đất đỏ pha cát mịn, mơ mờ dưới ánh sáng sao. Mới đi được chừng nửa tiếng, Oanh đã bắt đầu buồn ngủ. Buồn ngủ thì cứ ngủ. Chẳng gì Oanh cũng đã quá quen với cách vừa hành quân vừa ngủ này rồi. Vấn đề là phải hơi chúi người về phía trước, phải guồng chân bước sao cho đều, để giữ khoảng cách với người đi phía trước, mũi lính trận thính như mũi chó, chỉ cần bước lệch khỏi hàng quân là cái mũi nó đánh hơi thấy liền, nó đánh thức mình liền. Đã qua mấy tháng liên tục hành quân và hành quân, việc vừa hành quân vừa ngủ đã thành kỹ năng của Oanh, không nói ra, nhưng Oanh phần nào cũng rất tự hào về khả năng quái dị này của mình. Anh có thể vừa đi vừa ngủ như thế suốt cả đêm, cũng chẳng bao giờ bị lạc đội hình lấy một bước. Có vẻ như C trưởng Nguyễn Bá Thiệu biết được điều này. Đang đi phía trước, Thiệu tụt lại đi ngang với hàng với Oanh. Vừa đi vừa rầm rì kể. Mẹ nó chứ, vừa họp quân lực hồi sáng xong, vậy mà vụt một cái, hành quân cấp tốc, mất bố nó cuộc hẹn tối mai, tiếc bỏ xừ đi được. Oanh biết là C trưởng tiếc cái gì, nhưng vẫn hỏi, anh đẹp trai lồng lộng thế, thời xưa thiếu gì cô xin chết mà tiếc. Thiệu xốc lại ba lô, vỗ vai Oanh nói, số tớ rận rệp bỏ mẹ, cứ gần cưa đổ cô nào thì mất cô ấy lãng òm. Hồi còn đóng quân ở bản Cao Lan dưới chân Đèo Bụt, chủ nhật nào được nghỉ, tớ cũng mò vào bản, đổi đường đổi sữa lấy nếp lấy gà nấu ăn, ăn mãi ở nhà dân, tớ chấm được một cô bằng tuổi tớ, đẹp cứ như gà rừng, đã hẹn được chiều chủ nhật tuần sau gặp nhau bên dòng suối ở rừng dẻ, thế mà sáng hôm sau có lệnh điều về Vũ Thư Thái Bình tuyển quân, công cò hoá ra công cốc. Lần này cũng thế. Phải đầu hôm tớ đừng đi tìm cậu, biết đâu tớ a lê hấp được cô ta rồi. Mà này, thế hồi còn sinh viên cậu đã bốc hốt được gì chưa, nghe nói sinh viên trường y chịu chơi lắm. Tớ mà là sinh viên như cậu ấy à, tớ thành đàn ông lâu rồi. Ở làng tớ ấy à, con gái một là nó tình tang tình đi rình trung uý, hai là nó lùng sinh viên săn giống có học. Đời đểu thế, thứ học mới xong lớp bảy như tớ, con gái đẹp chúng nó coi là hỉ mũi chưa sạch, có đứa nào thèm ngó ngàng tới đâu. Nhưng lo gì, cứ sống trở về, con gái ngoài quê có mà cả từng binh đoàn, tha hồ mà chiến đấu, chỉ sợ cái đó lỡ bị mảnh pháo nó thiến mất. Lính tráng thiếu gì đứa cụt cái ấy, có điều chúng nó giấu như mèo giấu cứt, vinh quang gì mà khoe ra.

Hai người đang vừa đi vừa trò chuyện thì tay liên lạc D bộ chạy đến truyền lệnh tiểu đoàn, đại đội phải chạy vận động gấp, có lệnh mới. Vậy là chạy. Súng đạn, soong nồi va đập nghe loảng xoảng. Trời mới mờ mờ ưng ửng sáng, cây cỏ bên đường còn ướt đẫm sương đêm, vậy mà ai nấy đều đổ tháo mồ hôi, ướt đẫm cả áo, thở hổn hển cả ra đằng mồm đằng mũi. Có anh lính lùn choẳn ngã lăn cù ngay trước mặt, C trưởng quát, ông không biết xắn quần buộc túm lại à, ống quần rộng thùng thình như quần đàn bà, không vấp ngã tôi chớ kể làm người. Nhanh lên. Ông mà lạc đội hình ông chết với tôi. Người lính lùn choẳn không xắn quần, mà cởi luôn quần quấn lên cổ, vừa chạy vừa cằn nhằn, địt mẹ mấy thằng quân nhu, chúng đếch biết tới bọn nhỏ con đông hằng hà sa số hay sao mà may quân trang tới số bốn là hết, quần đéo gì mà rộng thùng thình như váy con đỉ thế này. Thiệu dùng tay đẩy mạnh vào lưng anh ta. Ai bảo bố anh chơi không đúng kiểu. Đưa ruột tượng gạo đây tớ vác cho. Chạy nhanh lên! Nhanh lên! Đại đội không còn một hàng dọc nữa, mà phút chốc đã thành hàng ba hàng bốn. Oanh nhìn thấy một anh cõng bệ cối 82 bị lọt lại liền hỏi, sao ông chạy cà nhắc như thằng què thế. Anh lính vác bệ cối vặc lại ngay. Què là thế nào. Tuột bố nó một quai dép rồi. Ra trận mà đi dép cao su. Đéo quân nào giống quân ta. Chẳng lẽ bố mày lại quẳng dép đi chân đất. Thạch Sanh đéo đầu mà đầu trần chân đất. Thế rồi anh ta cúi xuống lột dép thật. Lột cả hai chiếc dép nhét vào dây xanh tuya rông, hồng hộc chạy lồng lên cho kịp đội hình.

Bảy giờ sáng, cả tiểu đoàn đến được bên bờ sông Trăng biên giới, cũng là lúc phía bên kia rộ lên tiếng pháo bầy nổ chát chúa. Rồi thì một bầy trực thăng năm sáu chiếc chui chúi bay tới, sút rốc két như điên như cuồng. Liền đó là tiếng chiến xa M48, M113 gầm rú. Chắc chắn là sẽ đánh càn lớn đây, pháo nổ cỡ này, hẳn là đối phương đang dàn quân cấp trung đoàn trở lên. Sông Trăng đang lúc nước kém, chiến xa đối phương mà tràn tới, lớ vớ quân ta vỡ trận như chơi. Chạy bộ đã hơn hai tiếng đồng hồ, còn sức đâu mà đào công sự, mà đánh đấm. Oanh chạy lại gặp C trưởng nói, anh Thiệu, anh cho em về ngay A hoả lực nhé. Thiệu nhún vai nói. Vội gì. Ông không nghe chỉ có tiếng súng đối phương sao. Vợ lão Cao Văn Viên lại bày trò bán vũ khí cho ta đấy. Mấy lần trước cũng vậy. Pháo nổ càng dữ, quân ta lại càng mua được nhiều vũ khí. Mẹ khỉ! Chiến tranh cũng là trò buôn bán. Rồi ông coi. Quả nhiên là như vậy thật. Chỉ ì đùng chừng nửa tiếng là im bặt. Rồi hơn tiếng đồng hồ sau, Oanh thấy một đoàn năm chiếc M48 cắm cờ mặt trận giải phóng, trên tháp pháo lố nhố mấy anh quân ta kẻ đứng người ngồi, lù lù nối đuôi nhau kéo tới, rồi trườn xuống sông, sùng sục lội nước. Ra là vậy. Đối phương bày trò nổ súng ầm ầm, rồi bỏ lại xe tăng và súng ống cho ta. Chiến tranh thì phải có thắng có thua, có mất mát. Sài Gòn được Mỹ chống lưng, tiền bạc, xe pháo, súng ống thiếu gì, bán buôn kiểu chiến trận, tụi Mẽo có biết cũng làm gì được. Oanh hỏi C trưởng điều thắc mắc, đã biết đối phương chỉ dàn trận giả vờ, sao bắt lính ta phải chạy hộc tốc làm gì. Thiệu lại nhún vai, cười khẩy. Thì ta cũng phải giả vờ dàn trận để bảo đảm hợp pháp cho vợ ông Cao Văn Viên buôn bán hợp pháp chứ. Ông thấy chiến tranh có đúng là trò đùa không nào.

Trưa hôm ấy, Oanh về nhận A hoả lực, người gặp đầu tiên chính là anh vác bệ súng cối. Anh ta nhe răng cười khì khì. Anh ạ, em tên Sơn dân làng Lim chính cống, đi lính mới sinh tật chửi thề nói bậy, chứ ở quê em điều này cấm kị lắm. Dân liền anh liền chị mà anh. Anh hút với em điếu thuốc nhé. Thuốc lá sợi của Miên, cuốn bằng giấy hiệu con gà. Anh thấy lính hoả lực ăn chơi xa xỉ không? Thuốc sợi Miên cuốn giấy hiệu con gà. Nói thật, lúc còn ở quê em đã làm gì biết hút thuốc. Giờ thì trà thuốc đủ cả. Thỉnh thoảng còn uống cả rượu. Rượu anit chai vuông, chai tròn đàng hoàng. Ra trận mới biết ăn chơi, chứ ở quê chỉ biết có cái đít trâu. Nói xong Sơn nhe răng cười tít mắt, hỏi Oanh. Mà này, A trưởng có biết tại sao người ta nói cười ngu như trâu không? Đúng ra là phải nói cười ngu như trâu đực mới đúng. Cái giống trâu đực ấy mà, khi thấy hoa trâu cái sưng lên hồng hào, chúng lẻo đẻo đi theo cả ngày, rồi thì cứ cái hoa ấy hít lấy hít để, rồi thì nghếch đầu lên cười ngờ nghệch như thằng ngu. Thèm gái ý mà. Ai thèm gái mà chẳng ngu hả anh? Ngu mà vẫn cứ thèm mới chết chứ. Chẳng bù cho mấy con ngan trống. Ngan mà thèm ấy à, chúng cắn nghiến đầu con mái đè sấp xuống, nhảy phóc lên dập dập dập dập liên tục, dê thì nhằm nhò gì, thúc một cái nông choèn là xong. Cả dưới nước ngan cũng dìm đầu con mái xuống nước mà dập dập dập dập, trong bầy có bao nhiêu con mái, nó hùng hục đè đầu cả bấy nhiêu con; văn ngan tướng công mà lại.

Bữa cơm trưa đầu tiên ở A hoả lực chỉ có khô cá mối nướng. Sơn nói với Oanh. Anh có thích bắt cá không? Thích thì nghỉ ngơi một lúc, anh em mình ra đồng bắt cá, chiều nay tha hồ tôm cá mà ăn. Mới về với tiểu đội, Oanh cũng muốn làm được gì đó cho anh em, nên hút xong điếu thuốc cuốn, hai anh em xách theo một khẩu súng đi luôn. Họ đi tút tít ra gần giữa cánh đồng, chọn một cái đìa cụt, dài chừng độ hai mươi mét. Sơn rút chốt trái thủ pháo ném xuống. Nghe đùng một tiếng. Nước văng bắn lên tung toé, đìa nước đục ngàu cuộn xoáy, rồi thì cá phơi bụng nổi lên trắng xoá. Oanh lội xuống nước, nhặt những con cá chết ném lên bờ. Sơn nói, bắt làm gì mấy con cá trắng ấy anh, mò xuống bùn mà bắt, cá lóc cá trê chết dúi dưới bùn nhiều lắm, nhưng nhớ chỉ bắt những con to bằng cổ chân thôi, cá to quá là cá già, thịt nhạt lắm, lại chẳng béo gì. Sơn và Oanh hì hụi mò khoảng hai mươi phút đã ném lên bờ cả đống cá. Cả hai đang định ra về thì thấy có hai bóng người từ phía bờ sôngTrăng đi vào. Khi họ lại gần, Oanh nhận ra đó là hai cô gái còn rất trẻ, mặc quân phục may bằng vải pô lin phăng, đầu đội mũ tai bèo, vai mỗi người đều có khoác khăn rằn gà ma màu xanh đen. Sơn bấm tay Oanh nói. Cánh quân y đấy. Họ cũng đi bắt cá, hay ta ở lại mò cá cho họ, biết đâu sau này lại trở nên thân thiết anh ạ. Sơn nói xong thì đứng dậy chống nạnh, đợi hai cô gái đến gần mới hỏi. Hai cô đi kiếm cá cải thiện cho đơn vị phải không? Khỏi phải xuống nước mò làm gì cho ướt quân phục, để đấy chúng tôi bắt cho, cá chết vì bể bong bóng dưới đìa còn thiếu gì. Chỉ cần hai cô cho biết tên làm quen, chúng tôi sẽ bắt cho cả đống. Một cô cười tươi rói, nhanh nhảu nói, em tên Miền, nhỏ này tên Nam, tụi em là lính Trạm phẫu tiền phương, mấy anh giúp tụi em, mơi mốt có dịp tụi em đền lại cho. Sơn đá mắt nhìn Oanh rồi cười và nói, đền gì thì đền ngay bây giờ, chứ đợi đến mơi mốt mới đền, có khi chúng tôi ngỏm cả rồi. Lính tráng với nhau, đừng có lừa nhau nhé. Tên gì lại tên Miền Nam. Cô vừa nói xong lại nói, thật mà, hai đứa em tên Miền Nam thật đấy. Tổ phẫu tiền phương tụi em có năm đứa con gái, thủ trưởng đặt tên là Miền Nam Quyết Chiến Thắng, đứa nào cũng Huỳnh Thị hết; hổng tin, sẵn có cá lóc, tối mời các anh đến lán Trạm phẫu tiền phương ăn cháo cá với chúng em, biết liền hà. Nói xong cô ta cầm tay Sơn kéo anh về phía mình, hôn đánh chụt một tiếng lên má Sơn, rồi vừa cười khanh khách vừa nói, mầy cũng hôn anh ấy đi Nam, đền trước bây giờ, mơi mốt khỏi đền, coi như khỏi mắc nợ; lính tráng mà mắc nợ nhau coi kì lắm. Cô gái tên Nam cũng không phải tay vừa, cô ta nhìn thẳng vào mắt Oanh, rồi nghênh đầu nói, em đền anh kiểu khác nè, cho anh hun thoải mái đấy. Oanh nghe vậy thì nhảy ùm luôn xuống nước. Trên bờ hai cô gái ôm chặt lấy nhau, vừa đấm lưng nhau thình thịch vừa cười như nắc nẻ, vừa nói như cốt để cho Oanh nghe thấy. Tướng mạo coi ô dề mà nhát hít hà. Chắc lính mới tò te ngoài Bắc mới vô. Kệ mấy ảnh, tụi mình xuống mò tôm đi. Nói xong, cả hai cô cùng cởi quần dài tỉnh bơ. Trời ạ, lính tráng gì mà bốn cái giò trắng sao mà trắng vậy không biết, cứ là sáng ngời lên đến hoa cả mắt. Khi đã bắt được cả một đống tôm đống cá, cô Nam hỏi Oanh, mấy anh có hộp quẹt không, có thì ta nổi lửa nướng mớ tôm càng xanh ăn cho vui, chứ tôm cá nhiều ê hề vầy, đem về sao cho hết. Thế rồi cả bốn người cùng đi vơ cỏ khô, xúm nhau ngồi nướng tôm, vừa ăn vừa hỏi thăm nhau đủ thứ chuyện trên đời. Sau đó quần của ai người đó buộc túm hai đầu ống quần lại, tọng tôm cá vào, khoác lên vai đi về.

Đang giữa buổi chiều, trời nắng như đổ lửa, đồng đất Soaivieng ong ong lên như cái chảo gang bị nung trên bếp, do vừa ăn mỗi người cả bụng tôm nướng, ai nấy đều khát khô cháy họng. Nhìn thấy phía trước về bên trái có mấy bụi bình bát xanh rì, Sơn nói mọi người đến đấy ngồi nghỉ tránh nắng một lúc rồi kiếm nước uống. Nghe tới nước, ai nấy đều phấn chấn hẳn lên, chạy ngay đến lùm bình bát, đánh đu vào cách cành cây, vục đầu xuống nước uống ừng ực. Đang uống ngon lành, chợt Oanh nghe tiếng Sơn nói rất to, mẹ kiếp, thằng nào lại chui xuống đây mà chết thế này. Theo hướng tay Sơn Chỉ, Oanh nhìn thấy rõ ràng một bộ xương người đã đóng rêu xanh chìm dưới đáy. Tiếng Miền cất lên rành rọt. Chèng ơi, không ngờ nước ngâm xương người ngọt lịm như đường phèn ha, nhưng lỡ tụi em mà phình bụng lên, nhứt định bắt thường cả hai anh đó nhen! Thường không xứng đáng hổng có chịu à nhen!

Quái thật. Tự nhiên sau vụ uống nước có bộ xương người, cả bọn tự nhiên lại vui hẳn lên. Sơn kể. Hồi mới nhập ngủ, trên đường hành quân từ Phổ Yên Thái Nguyên qua Mai Sưu Lục Ngạn Bắc Giang, khi được lệnh dừng chân, lính tráng khát khô cuống họng, vừa hạ ba lô xuống, đã thấy anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng chạy túa vào làng. Sơn rẽ vào một ngôi nhà, thấy lính ta đã bu kín quanh cái giếng nước ở góc sân, liền hỏi cô bé đang đứng lớ rớ bên cây rơm, trong nhà có nước uống không em. Con bé trả lời trong bếp có nước chè vối đấy, chú bộ đội vào mà uống. Vậy là Sơn lủi ngay vào, thấy trên bếp có hai nồi nước to tướng, anh móc ngay cái ca tráng men xanh của Trung Quốc, vục xuống nồi múc đầy một ca, đưa lên miệng nuốt ực một cái. Nước chưa kịp trôi qua cuống họng, Sơn đã ho sặc sụa, hắt bắn cả hụm nước lớn ra ngoài, mồm miệng cay nồng như xé, cuống họng cay xè như phải bỏng. Cùng lúc con bé chạy xộc vào, nói mếu máo, chết rồi, cháu quên nói cho chú biết, chú uống phải nước bồ kết gội đầu của chị cháu rồi. Miền nghe kể thì phá ra cười như nắc nẻ. Hèn gì tóc anh bi giờ xanh mướt, đẹp hớp hồn luôn. Để em về nói tụi nó nấu nước bồ kết làm thuốc uống. Không chừng mơi này hoà bình tụi em làm giàu luôn. Chừng đó tha hồ mà lấy chồng, tha hồ mà sướng. Nam nói chen vào. Lấy bù luôn cho mấy năm chiến tranh nhịn thèm nghen chị Hai.

Tối hôm đó tiểu đội hoả lực nấu liền một lúc hai soong quân dụng cháo cá lóc để liên hoan, gọi là mừng quân ta vừa có thêm năm chiếc xe tăng M48. Đã gọi là liên hoan thì phải có rượu, nhưng tiểu đoàn vừa mới chân ướt chân ráo đênTà Nu, biết ở đâu bán rượu mà mua. Sơn hiến kế. Anh Oanh cứ để chuyện này em lo cho. Em có thằng bạn thân tên Quân bên A thông tin vô tuyến điện, ai không biết, chứ thằng này nó tìm rượu giỏi lắm, đi tới đâu nó cũng thu thập thông tin trong vòng chỉ vài chục phút là biết đủ mọi thứ, cho dù cả những thông tin có ngóc ngách đến đâu đi nữa. Mà cái thằng Quân này, nó là sinh viên Mỏ - Địa chất, nó đã tìm thứ gì, thì cho dù có khó tìm đến đâu, nó cũng moi lên được anh ạ; đã vậy anh chàng còn có cây đàn ghi ta, chơi chủm choẹ nhưng cũng hay ra phết. Nói xong Sơn vù đi liền. Chưa đầy một tiếng đồng hồ đã thấy anh ta trở lại, hai tay cầm hai chai A Nít vuông huơ cao trên đầu, nói liến thoắng. Sướng rồi nhé, những hai chai A Nít, lại còn gói trà Củ Măng, thêm hai gói Ru Bi đỏ đàng hoàng. Tất cả là nhờ thằng Quân đấy. Lát nữa nó xách đàn đến, đêm nay ta hát một trận tơi bời luôn. Lính chiến trường B2 là vậy. Cứ được ở không là bày trò uống rượu. Chẳng biết ai là người đầu tiên bày đặt ra, nhưng cứ tự nhiên một cách rất bình thường hoa mướp, chuyện uống rượu đã thành cái lệ. Nhàn cư vi bất thiện mà. Ở không thì uống rượu. Uống để quên đời, để sống. Chuẩn bị vào trận thì uống rượu. Uống để chia tay trước, vì biết thằng nào chết trong trận này. Đánh trận trở về cũng uống rượu. Uống để mừng vì còn được nhìn thấy nhau chưa chết. Mỗi thằng một hai ly thì có thấm vào đâu, nhưng cứ phải có trong máu một hai ly, thì mới ra thằng lính đang sống chết ở chiến trường Nam Bộ. Các thủ trưởng biết thừa chuyện này, nhưng họ vẫn phớt lờ đi cho, bởi đơn giản là dù có làm đến thủ trưởng cỡ nào, suy cho cùng các thủ trưởng cũng vẫn là thằng lính; mà đã là lính với nhau thì phải thương nhau thế thôi. Nghe đâu mấy thằng Mẽo ra trận, trong khẩu phần ăn còn có cả khẩu phần rượu trắng và thuốc lá, và… lâu lâu còn được thượng cấp đem cả gái đẹp đến uỷ lạo, sướng như lính Mỹ mà lại. Có điều tụi Mỹ nó ngu. Lính mà cho lính sướng quá, thì lính đâu còn là lính nữa. Có lần Oanh đã nghe ai đó vặc lại bạn của anh ta. Mày ngu bỏ mẹ, chúng nó có tiền, chúng nó phải được sướng chứ, sướng để mà chết cho sướng. Ở đời, đéo thằng nào muốn chết khổ đâu; chẳng qua vì số khổ thì phải chịu. Tất nhiên rồi. Lính Mỹ, lính ta, lính Sài Gòn, lính nào cũng là lính. Lính mỗi bên khổ mỗi kiểu, sướng mỗi kiểu; ai dám nói chúng mày khổ hơn tao, chúng mày sướng hơn tao. Như lính A hoả lực C2 D1 E207 đêm nay này. Ăn cháo cá lóc. Uống rượu A Nít. Uống trà Củ Măng. Hút thuốc Ru Bi đỏ. Thế chẳng là sướng ngất trời rồi còn gì. Lại còn quàng vai bá cổ nhau hát tưng bừng. “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, “Miền Nam ơi có chúng tôi sẵn sàng”... Ái chà, lúc còn theo đít trâu ở quê, đã bao giờ được sướng ngất ngưỡng như thế này cơ chứ. Vậy mà chưa hết đâu. Khoảng gần chín giờ tối, tự nhiên lù lù cô Miền, cô Nam xuất hiện, đem theo một chai A Nít tròn, thứ rượu mà chỉ có cánh lính hậu cần mới có mà uống. Nam ghé sát đôi môi chín mọng, nói vào tai Oanh, lán tụi em ở gần đây nghe tiếng mấy anh hát rõ lắm, chị Miền ngủ không được chạy đi nghe, biết được các anh đang hát, liền khều em dậy rủ đi trả ơn bằng cách mở bồng chị Hai Hồng lấy cắp chai rượu, là rượu chị ấy mua để dành đợi người yêu đấy; đêm nay vui thì uống với mấy anh, mơi mốt hai đứa em mua trả cho Hai Hồng chai khác, Cứ được vui thì cứ vui cái đã, tới đâu hay tới đó, phải hôn anh Ba. Ra là vậy. Tự nhiên Oanh lại trở thành anh Ba. Ba Oanh. Vậy thì uống. Chỉ tiếc là chỉ còn có một chai A nít tròn này thôi. Chín thằng hoả lực với hai cô quân y, véo cái là hết, mà đêm thì còn

dài mênh mông, dài mênh mông.

Trong hình ảnh có thể có: Hồ Tĩnh Tâm, đang ngồi, đồ uống, thực vật, bàn, ngoài trời và trong nhà

 

Sáng sớm hôm sau, liên lạc đại đội cho biết, cả tiểu đoàn lại được nhận thêm quân, lần này cũng chỉ toàn là linh sinh viên như lần trước, nhưng hầu hết là lính sinh viên đại học xây dựng, đại học mỏ địa chất, đại học nông nghiệp; lính nhiều tới mức, tiểu đoàn có thể biên chế đầy đủ như các đơn vị chính quy, tha hồ mà đánh cho tới ngày toàn thắng. Khi lên K bộ của tiểu đoàn nhận quân, gặp C trưởng, C trưởng cười tươi roi rói, vỗ vai Oanh nói, bổ sung cho ông sáu thằng, tôi ưu tiên lựa cho ông toàn những thằng đô lực sĩ, lại là dân Hà Nội có học, ông có thể sắp xếp lại tiểu đội được rồi đấy. Nói xong, Thiệu móc trong túi ra gói Sa Mít, đang định mời Oanh một điếu, thì chựng lại, đứng nghiêm giơ tay chào.

- Tôi, Nguyễn Bá Thiệu, C trưởng C2, D1. Chào hai thủ trưởng!

Oanh quay lại, nhìn thấy hai người lớn tuổi đeo xà cột da màu nâu, cũng dập chân đứng nghiêm, giơ tay chào. Một người dáng cao to, gương mặt chữ điền, nước da màu bánh mật, phẩy tay nói.

- Giới thiệu với hai cậu, đây là E trưởng Năm Thời.

Vừa về tiểu đoàn được có mấy ngày, nên đây là lần đầu tiên Oanh được gặp tiểu đoàn trưởng Hai Mai, tuy nhiên anh cũng đã nghe anh em nói về thủ trưởng tiểu đoàn khá nhiều. Nào là Hai Mai từng ra Bắc, từng được đưa qua Trung Quốc học đặc công. Nào là Hai Mai nguyên lính gộc tiểu đoàn 307 thời chống Pháp, đánh giặc trời gầm đất lở. Nào là Hai Mai có mối nợ nước thù nhà lớn lắm, nên ông ấy đã xung trận là đánh tới cùng, đánh chết bỏ. Còn với E trưởng Trần Văn Thời, tiếng là ở Văn phòng trung đoàn đã mấy ngày, nhưng mãi tới hôm nay Trần Oanh mới được giáp mặt thủ trưởng trung đoàn. Anh có cảm giác trung đoàn trưởng rất đậm chất lính, cho dù tướng mạo ông giống một nhà tri thức hơn là giống với lính trận. Điều Oanh ngạc nhiên hơn, là khi bắt tay anh, E trưởng lại hỏi C trưởng của mình. Cậu này là Trần Oanh, là lính văn phòng E bộ mới về à. Nghe nói cậu ấy một mình bơi vượt sông Tiền, thoát chết trong trận cù lao Ba Thu phải không? Sinh viên trường Y mà bơi vượt được sông Tiền trong đêm thì quá giỏi đấy. Tớ chưa kịp đến thăm mà cậu ấy đã về đây rồi. Thôi, coi như hôm nay gặp nhau. Tớ mừng cho cậu. Nói xong, E trưởng đưa tay bắt tay Oanh, lắc lắc mấy cái rồi nói tiếp, hôm nào tớ sẽ xuống hỏi cậu chuyện bơi vượt sông Tiền trong đêm. Có thằng phóng viên nó muốn viết về chuyện này, tớ hứa với nó rồi. Giờ thì cậu cứ đi nhận quân đi. Xong đợt nhận quân bổ sung này, nhất định tớ sẽ gặp cậu.

Khi hai thủ trưởng đã đi rồi, khi đã nhận thêm cho A hoả lực sáu tân binh rồi, chẳng hiểu vì sao đầu óc Trần Oanh cứ rưng rức nhớ về đêm vượt sông Tiền ở cù lao Ba Thu. Đêm ấy trời tối mò mò. Tối đen tối đặc. khi nhận được lệnh các đại đội tự mở đường máu rút lui, trung đội của anh đã tứ tán khắp cù lao. Nhiều người chạy tản mát trong các khu vườn. Nhiều người chạy ra cánh đồng giữa cù lao. Chẳng ai còn lấy một viên đạn. Cả tiểu đoàn cầm cự với các tiểu hạm đội nhỏ trên sông của đối phương đã ba ngày ba đêm, có ai còn viên đạn nào đâu mà mở đường máu. Mở đường máu giữa cù lao bốn bề sông nước mênh mông, có nghĩa là phải tự vượt sông tìm lấy đường sống. Dân tình Ba Thu khi thấy bộ đội giải phóng được dân công dùng tàu ghe chở đến, họ biết là thế nào cũng đánh lớn, họ đã đùm dúm ghe xuồng chạy hết qua đất liền, giờ biết lấy gì mà vượt sông. Mà giả như có xuồng ghe chăng nữa, liệu có vượt qua dòng sông rộng gần cả cây số được không, khi mà ca nô, tàu chiến của đối phương bủa vây dày đặc, đêm đêm liên tục quét đèn pha sáng loáng, đại liên, trọng liên luôn sẵn sàng xối đạn xuống bất cứ một mục tiêu nào trôi nổi trên sông, dù là một dề lục bình, hay bất cứ một vật gì đấy. Mở đường máu cũng có nghĩa là tự đâm đầu vào chỗ chết. Nhưng với Oanh lúc bấy giờ, dù liều mạng bơi vượt sông, vẫn còn có một phần ngàn hy vọng được sống, chứ ở lại cù lao, khi đối phương tràn lên bờ, lấy gì mà chống cự, không chết thì cũng bị bắt sống, thà là liều mạng tìm sự sống trong cái chết.. Oanh và mấy người nữa đẵn cây chuối, đeo chéo súng sau lưng nhoài xuống nước. Vừa bơi ra được vài chục mét thì tàu chiến và ca nô đối phương trờ tới, xả đạn như mưa xuống những cây chuối đang trôi nổi vật vờ. Tiếng đạn nhọn rít lên lạnh xương sống. Bụi sóng văng tung toé mù mịt. Oanh biết rằng cứ ôm lấy cây chuối thì thế nào cũng chết, muốn sống thì phải lặn xuống, lặn xuống càng sâu càng tốt. Nhưng sức anh thì lặn được bao nhiêu mét. Hai tai chịu áp lực nước ù lên, đầu căng nhức, trống ngực nện thình thình, đành phải nhoài lên. Vừa ngoi lên khỏi mặt nước, đã thấy ánh đèn pha quét tới loang loáng loang loáng, lại phải lặn ngay xuống. Đạn nhọn của đối phương vẫn bắn như vãi trấu, mặt sông sôi lên sùng sục. Oanh chợt nhận ra rằng, anh chỉ còn một cách duy nhất là thả trôi theo dòng nước, vừa thả trôi vừa chòi đạp về phía bờ bên kia, cứ đèn pha quét gần tới thì lặn, đèn pha quét lướt qua rồi thì trồi lên; miễn là đừng trúng đạn, đừng kiệt sức chìm xuống, đừng chết một cách vô lý khi anh đang còn trong độ tuổi thanh xuân. Bằng cách ấy. Bằng cách loi ngoi ngụp lặn liên tục suốt đêm như thế, gần sáng thì Oanh dạt được lên bờ.

Buổi chiều, khi ăn cơm xong, Oanh đang ngồi hí húi lau chùi khẩu Ak một cách rất tỉ mẩn, thì có anh lính mới tên Lực sán đến ngồi xuống bên cạnh hỏi, thủ trưởng à, em nghe nói thủ trưởng quê Hải Dương phải không? Oanh vừa gật đầu vừa nói, cứ gọi tớ là Oanh, Trần Oanh, chứ thủ trưởng cái đếch gì, tớ đi trước cậu có 6 tháng, ông Thiệu thấy tớ lớn tuổi mới cho làm A trưởng, chứ khoản cối 61 cối 82 tớ cũng biết đếch gì đâu. Lực lại nói, không em có hỏi thủ trưởng về cối 82 cối 61 gì đâu, em chỉ muốn nhận đồng hương với thủ trưởng thôi; đợt này lính sinh viên Hải Dương bổ sung về tiểu đoàn ta nhiều lắm, em nghĩ, hay ta lập cái hội đồng hương cho vui. Oanh nheo mắt nhìn Lực như thể ngạc nhiên lắm về ý tưởng thành lập hội đồng hương, rồi buông túm giẻ ra, nhìn thẳng vào mắt Lực, nói, ở chiến trường, thằng lính nào mà chẳng là đồng hương lính với nhau, cứ lính là đồng hương rồi, Bắc Nam gì cũng đồng hương, đồng đội, cả đồng chí nữa. Tớ với cậu chẳng qua sinh cùng quê với nhau, chứ mấy thằng khác trong tiểu đội, dù bốn chốn ba nơi thì cũng là đồng hương lính với nhau cả, mai mốt đánh đấm, lỡ thằng nào có nằm xuống, thì cũng chỉ ghi là lính C2 D1 E207, hay ghi ngắn gọn là lính E207; chỉ sợ chết nhiều quá, chúng nó chỉ kịp ghi cái tên với chữ E207; nói thật với chú mày, chỉ cần được như thế cũng là may lắm rồi. Oanh lôi trong túi quần ra bọc thuốc lá sợi A Ra, quấn một điếu, kéo một hơi dài, phả khói xanh um nói tiếp. Sau trận thoát chết ở cù lao Ba Thu, tớ khôn ra nhiều lắm. Tớ nói cho cậu biết, đã vào tới chiến trường là coi như cái chết luôn treo đầu sợi tóc. Thằng nào sợ chết thì dễ chết như bỡn, cứ phải lờ nó đi thì cái chết nó mới khó sờ được gáy mình. Như tớ này. Nói thì nói thế thôi, chứ tớ vẫn phải đề phòng đấy. Oanh vừa nói vừa lôi trong túi áo ngực bên trái ra một miếng giấy, được dán rất kĩ trong mấy miếng ni lông, đưa cho Lực xem, nói tiếp. Tớ ghi đủ cả họ tên, đơn vị, quê quán, ngày tháng năm sinh trong ấy đấy. Cả tên cha mẹ tớ nữa. Ghi để lỡ tớ có chết, anh em họ còn biết mà báo về cho đơn vị, báo về cho quê nhà; chứ không ghi ra ấy à, ai họ biết mình là thằng đếch nào, họ chỉ ghi mỗi hai chữ vô danh thì có mà bỏ mẹ. Cậu thấy đấy, tớ bọc kĩ những ba lớp giấy bóng, trong này họ gọi là giấy kiếng; lớp nào tớ cũng hơ lửa dán kín lại, sợ chết giữa đồng nước, giữa sông, nước nó lọt vào, nước nó xoá sạch. Tụi bên kia chúng nó có tấm thẻ bài bằng inox, chúng nó hơn hẳn mình về khoản này. Cậu khôn hồn thì cũng nên bắt chước tớ đi. Quân tử phòng thân, mất đếch gì mà không phòng thân. Nói cho cậu biết. Còn ở Sroai Vieeng ngày nào, còn sướng được ngày ấy. Nay mai vượt sông Trăng tiến sâu vào vùng bốn chiến thuật rồi, đéo có biết trước chuyện gì đâu. À, mà tớ xin lỗi cậu về bệnh hay nói tục hay chửi thề nhé. Mẹ kiếp! Mới vào B2 có tám chín tháng mà tớ nhiễm cái bệnh này lúc đéo nào không biết. Rồi cậu xem. Cả tiểu đoàn này, thằng nào dù có hiền như tu sĩ, cuối cùng cũng nhiễm bệnh nói tục, bệnh chửi thề khắp cả một lượt. Tụi bên kia nó nói là bệnh của lính, bệnh “lính mà em”. Lực cười khì khì. Vâng, anh ạ, nói tục ở đâu thì sợ người ta cười cho, chứ ở đây toàn lính đực với nhau, nói tục cho vui ý mà. Oanh lắc đầu cười. Nói mãi nó thành bệnh đấy. Có ông cán bộ to đoành, đứng nói chuyện trước hàng quân, hăng lên cũng văng tục. Tớ thề với cậu, cậu mà không tránh xa chuyện này, nay mai gặp gái, có khi cậu tán gái cũng văng cái ấy ra, nó hoảng, nó chạy bán xới cả cây số đấy. Lực nhe răng cười, nói thêm vào. Anh này, chuyện nói tục đôi khi cũng vui lắm. Nghe đâu dân làng Vân họ nói tục kinh hồn, đến mức cán bộ Ty Văn hoá phải về làm việc với xã, ông bí thư xã báo cáo với lãnh đạo Ty, các anh thông cảm, chúng tôi ra rả vận động nếp sống văn minh trên loa phóng thanh cả tháng trời, mà dân họ có nghe đéo đâu.

Oanh và Lực còn đang nói chuyện với nhau thì tay Liêm liên lạc đại đội đến báo, chiều mai A hoả lực cho bộ đội ra sông Trăng học bơi xuồng, chống xuồng. Thời gian chỉ có một buổi thôi, ai cũng phải học cho biết. Đúng giờ quy định, Oanh đưa cả tiểu đội ra bờ sông, bấy giờ mới biết, người dạy bơi xuồng, chống xuồng lại chính là cô Miền và cô Nam. Cả hai chia tiểu đội ra thành hai nhóm, hướng dẫn rất cụ thể từ cách ngồi cầm dầm tới cách đứng chống sào. Nhìn thì dễ, nhưng khi Lực vừa trên bờ bước xuống xuồng, cái xuồng ba lá đã lắc lư chao đảo, khiến anh ta chới với rồi ngã ùm xuống nước; người văng một nơi, súng văng một nẻo. Oanh chạy ngay xuống kéo Lực lên, nói, cậu phải từ từ thôi, qua xuồng của cô Miền đi, cô ấy dạy cho. Quái thật, rõ ràng anh chàng vừa lớ ngớ lăn ùm xuống nước, vậy mà khi bước xuống xuồng với cô quân y trạm phẫu, cô Miền dặn dò sao đó mà anh chàng Lực đã cầm sào chắc nịch, chống xuồng lướt vun vút, cứ như anh ta đã biết chống xuồng từ hồi nào. Sau một hồi chống xuồng dọc theo bờ sông, Lực đặt cây sào dọc theo chiếc xuồng, chuyển sang học bơi dầm. Mới đầu thấy anh ta tỏ ra rất lọng ngọng, chiếc xuồng cứ lắc lư chao qua đảo lại, nhưng rồi anh ta cũng bơi được chiếc xuồng qua phía bên kia bờ sông. Lần này thấy Lực đã khôn hơn, đeo chéo khẩu AK ra sau lưng, guồng tay bơi xuồng cật lực. Khi quay trở về, ra tới giữa sông, anh chàng tự nhiên đặt mái dầm xuống, đứng lên nhặt cây sào để chống. Sông Trăng chỉ là một con sông nhỏ, rộng chừng hơn trăm mét, nhưng nước rất sâu. Lúc thọc cây sào xuống nước, cây sào không chạm đất nên đã làm cho Lực bị hẩng, ngã nhào xuống nước. Khi ngoi lên, anh chàng dùng cả hai tay bám vào be xuồng để leo lên, do chụp rụp sao đó khiến chiếc xuồng lắc mấy cái rồi lật úp. Trời ạ, cô Miền dạy bơi xuồng, chống xuồng nhưng lại không biết bơi. Vừa rơi xuống nước đã thấy cô ta hụp hửi, chới với như người giã gạo. Lực bấy giờ phải bơi tới, lặn xuống dưới húc vào ngực đội cô gái lên, rồi choàng một tay ôm lấy ngực Miền, vừa bơi vừa dìu cô gái vào bờ. Khi Nam và Oanh bơi xuống ra tới nơi, Lực toét miệng cười. Thủ trưởng không thấy em thừa sức đưa cô ấy vào bờ hay sao mà đem xuồng ra thế này, hỏng cả kế hoạch của em rồi. Nam nghe vậy liền lên tiếng, cho anh hỏng luôn kế hoạch nè. Nói xong Nam dùng mái dầm đẩy Lực ra, rồi mới đưa tay kéo Miền lên xuồng. Lực lặn một hơi rồi mới nổi lên bơi tới chỗ chiếc xuồng bị lật úp của mình, khéo léo lật ngửa chiếc xuồng ra, lắc lắc cho nước tràn ra ngoài, rồi bơi tiếp đi lấy cây sào và mái dầm, leo lên chèo xuồng vào bờ. Bữa cơm chiều hôm ấy cả tiểu đội vui nổ trời. Ai nấy thi nhau hỏi đầy lỗ tai của Lực. Mày ôm ngực cô ấy thấy thế nào hả? Còn săn giòn hay là đã nhảo nhoét ra rồi. Mấy bố tướng trên E bộ dễ gì không tìm cách ăn vụng. Mà mày được ôm chặt cô ấy, mày có ngửi thấy mùi gì không? Lính quân y chắc toàn mùi ê te mùi cồn chứ gì. Mày khôn như cáo thế mà mày không chỉ cho tao, để tao được ôm cô Nam một cái. A trưởng ơi, sáng mai mình có học bơi xuồng nữa không? Nói với cấp trên là chúng em chưa chống xuồng được đâu. Phải xin cô Miền, cô Nam dạy thêm cho vài buổi nữa mới may ra biết chống xuồng A trưởng à. Câu chuyện đang rôm rả thì C trưởng Nguyễn Bá Thiệu đến, khều Oanh ra ngoài nói nhỏ, dặn anh chọn bốn người, chuẩn bị cho chuyến công tác đặc biệt của tiểu đoàn. Oanh hỏi công tác gì thì C trưởng chỉ nhún vai. Tớ cũng có biết gì đâu, lệnh tiểu đoàn là cậu chọn lấy ba người, một B41, hai B40 chuẩn bị tham gia tổ công tác.

còn tiếp

PHÁC THẢO "LÍNH 207" phần 2

2. 
Chuyến công tác đặc biệt ấy là chuyến săn lùng diệt xe tăng theo lệnh của trung đoàn.
Tổ săn lùng xe tăng được hình thành bởi sự lắp ghép từ các bộ phận của B trinh sát, B thông tin, và A hỏa lực của C2, do tham mưu trưởng tiểu đoàn Nguyễn Văn Ngôi làm tổ trưởng.
Từ Xoài Riêng, Oanh cùng đồng đội vượt qua sông Trăng, thọc sâu vào vùng 4 chiến thuật. Đồng Tháp Mười cuối mùa khô, đưng lác bị khô hạn hun nóng tới quắt quéo, vàng nhức mắt dưới nắng trời. Không biết đường, cả tổ phải dùng la bàn định phương vị, dùng bản đồ pháo binh của quân lực Sài Gòn để định hướng. Trời đứng ngọ, oi ả, không một ngọn gió. Bất chợt hiện ra một gò đất, có cô bé đội cái nón rách te tua ngồi trên lưng trâu. Hạ sĩ trinh sát Tấn Cường hỏi:

- Nhỏ, đi Ba Gò đường nào?

Cô bé tụt từ trên lưng trâu xuống, khuỳnh tay chống nạnh, đứng chàng hảng, nói:

- Người ta vầy mà nhỏ.

- Ừ thì lớn. Xin lỗi nghen! Làm ơn chỉ giùm đường coi!

- Tui thứ út, tên Đèo, Huỳnh Thị Đèo, mười sáu tuổi. Tía má tui là du kích. Ổng bả hôm nay có nhà. Tối mấy chú tới đó ngủ. Còn Ba Gò đi theo hương này nè. Nhưng dễ gì qua trưa tới được. Chiều đến nhà tui đi! Tui bẻ cổ vịt nấu cháo cho ăn. Đi luôn giờ cũng được.

Tổ săn lùng theo cô bé về nhà. Đó chỉ là cái chòi lá trên một gò đất trồng đầy me keo. Cha mẹ của Đèo tuổi xồn xồn, rất tốt bụng. Họ đãi cả tổ cháo vịt. Ăn uống xong thì sập tối. Cả nhà Út có bốn người, họ trải tấm đệm dưới đất, giăng cái mùng lưới bự trảng để ngủ. Phía sau căn chòi lá là cái tảng xê, dựng hình chữ A bằng trâm bầu, đắp đất rất dày. Thói quen của dân Tháp Mười là đi ngủ rất sớm. Trong góc chòi có thắp ngọn đèn hột vịt, cháy leo lét, đỏ quành quạch.
Giác mười giờ, Oanh bị chột bụng phải mò ra ngoài. Trời tối nhờ nhờ, bởi có rất nhiều sao. Dòng Ngân Hà cong vòng, tưởng như đang chảy oà xuống mát lạnh. Đang đi Oanh bỗng nghe có tiếng phì phò, tiếng lách cách, tiếng lạch phạch. Đó là hai con trâu cui đang trầm mình dưới vũng bùn tránh muỗi. Toàn thân chúng ngập sâu dưới bùn, chỉ ló hai con mắt và hai lỗ mũi lên trên. Chúng lắc đầu xua muỗi, sừng chạm vào nhau phát ra tiếng lách cách. Thỉnh thoảng chúng vung đuôi đập muỗi, phát ra tiếng lạch phạch. Tới trâu cũng khổ vì muỗi nữa là người. Muỗi cỏ bu đốt Lâm nhoi nhói. Khổ nhất là chúng cứ nhè hai bàn mông của anh mà đốt. Rát, ngứa tới phát cuồng lên. Lâm kết thúc mọi việc rất nhanh để tránh muỗi, để lại trèo lên võng trùm kín bằng miếng bông xô Hoa Kỳ. Võng bạt dày cui mà muỗi cũng đốt xuyên qua, thấu tận lưng rát rạt. Nhìn thấy cái mùng còn rộng chỗ, Lâm chun vào nằm ké. Qúa nửa đêm, đang ngủ, thốt có tiếng khóc ré của thằng nhỏ lên sáu. Té ra nó bị con chuột đồng chun vào gặm gót chân. Soi đèn, thấy chỗ gót chân chai sần của nó, con chuột đã gặm vạt đi một lỏm, chạm tới thịt; máu rỉ ra từng giọt. Không hiểu sao lũ chuột đồng lại tinh quái vậy.
Sáng ngày, tham mưu trưởng nói:

- Đi hoài cũng vậy. Đêm nay tới gần Ba Gò, nằm chốt lại, rình xe của chiến đoàn 56.

Tổ săn lùng nằm chốt tại khu vực Ba Gò hai ngày hai đêm. Trời vẫn ong ong nắng. Gió chướng thổi phừng phừng. Cánh đồng căng nhức màu cơm cháy. Không thể nổi lửa giữa đồng trống, cả tổ phải nhai gạo rang, uống nước đìa. Người khô khát như bị vắt kiệt từng giọt nước. Mệt mỏi tới bả người ra.
Sập chiều, tham mưu trưởng quyết định chuyển hướng về gò Me Keo, hy vọng gặp dân, xin bữa cơm nóng cho lại sức. Vậy là lại đi.
Lực nói với Oanh:

- Em nhớ nhà qúa. Quê em nằm bên dòng sông Luộc. Nhà em có vườn vải, cây nào cây nấy cũng xum xuê, chiu chít những qủa là qủa, chín đỏ ối lên. Giờ mà có chùm vải thì tuyệt.

Sơn ngồi bên cạnh cười khì khì.

- Mà mày đã biết thịt con gái nó thơm mùi gì chưa?

Chàng xạ thủ B41, vuốt vuốt nòng súng.

- Mẹ khỉ! Tao thì tao chỉ nhớ mùi thịt da con gái thôi. Thơm như mùi hạt dẻ.

Tấn Cường, khoác chéo khẩu AK báng gấp trước ngực, quay lại nói:

- Chỉ bốc phét. Hạt dẻ quái gì có mùi!

- Thế mới nói- Sơn cười giả lả- đêm ấy tao với cô nàng nằm dưới gốc dẻ, nửa đêm giông nổi lên, một cành cây khô rơi xuống. Hạt dẻ văng tung tóe. Trời ạ! Hạt dẻ rừng Lục Ngạn, con gái miền Lục Ngạn. Ngon không chê được vào đâu. Lỡ chết thì uổng lắm.

Ngọ từ phía sau chạy lên.

- Mi kể đi! Kể về đêm hạt dẻ đi!

Oanh biết chắc, thể nào Sơn cũng hát vào tai cả tổ câu chuyện mà ai cũng đã thuộc làu làu. Nhưng mà được nghe thì vẫn sướng. Đơn giản là Sơn kể rất hay về chuyện ấy. Chuyện Sơn với cô nàng xứ Lục Ngạn đèo nhau bằng xe đạp phượng hoàng, sợ bị mưa trên con đường đất đỏ, phải ngủ lại qua đêm dưới tán một cây dẻ cổ thụ bên dòng suối. Cô gái yếu bóng vía, sợ rắn, sợ rít, sợ bọ cạp, sợ ma; sợ tới mức chỉ mới nghe tiếng loạt soạt đã ôm chầm lấy chàng trai mười chín tuổi. Vậy là cả hai bùng cháy. Chỉ tới lúc cành cây khô rơi quật xuống đánh ầm một tiếng, họ mới buông nhau ra.

- Ai cho điếu thuốc, tao kể cho nghe khúc chót.

Tấn Cường móc cho Sơn điếu ru bi quân tiếp vụ.

- Còn có nửa gói thôi. Mà lúc đó mày có phải năn nỉ không?

- Năn nỉ gì- Sơn nói- Khi mặt trời lên, tao thấy vai áo nàng bị rách, hở ra làn da trắng muốt, thèm tới lịm người đi được. Vậy là tao a lê nàng xuống gốc cây. Nàng lại chiều tao tới tận cùng. Tất cả vì tiền tuyến ấy mà. Thề có trời đất, da thịt nàng thơm mùi hạt dẻ thật đấy!

Chẳng biết có phải Sơn phịa ra không. Chứ chẳng lẽ cái thằng to như con gấu này lại biết nhiều con gái đến thế. Lúc thì nó kể hừng hực cơn giông xác thịt trong một cây rơm. Lúc lại hôi hổi nóng bên bờ ao. Lúc ban đêm, lúc ban ngày. Con gái phây phây cũng có. Các bà bánh nếp bánh tẻ cũng có. Làm gì có chuyện đào hoa đến thế. Nhưng dẫu Sơn phịa ra cũng có làm sao đâu. Miễn nghe sướng lỗ tai cái đã. Cả tiểu đoàn, bói không ra một người đàn bà chứ đừng nói tới con gái. Toàn đực rựa với nhau, chán ngăn ngắt. Trong chuyện này, chắc chỉ có một người đã biết cái ấy nó ngang dọc thế nào. Đó là ông Ngôi. Nhưng ông Ngôi, dẫu cạy miệng bằng lưỡi lê, cũng chỉ nói mỗi một câu: “Hòa bình, tụi mày về xứ Bến Tre với tao. Gái Bến Tre, vú to như cặp dừa”. Oanh không thể hình dung được. Với anh, chuyện trai gái là chuyện trên trời. Như Phụng ấy. Oanh với Phụng đã có với nhau một đêm sông Công. Nhưng hai người dẫu đã ngồi sát ràn rạt vẫn cứ như cách nhau cả mét. Oanh nhặt những viên cuội ném xuống sông. Phụng cũng ném cuội xuống sông. Những vòng sóng loang ra, đan xen vào nhau lăn tăn những gợn sóng. Chỉ có vậy. Cho đến khi ra về cũng chỉ có vậy. Chuyện ấy là chuyện trên trời. Ngay cả hôm vượt đèo Trê trên dãy Yên Tử, về tới Hưng Yên. Khi cả tiểu đội đã mắc võng, ngủ lịm đi vì mệt. Oanh chống gậy qua thăm tổ ba người của Phương. Căn nhà im ắng, vang lên tiếng ngáy pho pho của cánh lính. Ngọn đèn dầu cháy riu riu trên bàn thờ. Thế rồi từ trong cái màn mắc trên chiếc giường đôi, có tiếng phụ nữ vẳng ra, anh bộ đội ơi, anh có dầu cù là không, em đau bụng quá. Lính thì ai mà chẳng có dầu cù là được phát theo tiêu chuẩn, nên Oanh móc hộp cù là đem đến. Lần đầu tiên Oanh vén mùng của phụ nữ. Ngồn ngộn trắng hai bầu ngực, với cái bụng đã lùm lên. Sao lại thế. Hồn vía Lâm như lên mây, khi bị bàn tay người phụ nữ nắm lấy, đặt ấp vào cái bụng mềm mềm, nóng nóng. Vậy là Oanh vùng chạy ra ngoài. Khi đã ra khỏi cổng nhà, Oanh ngồi xuống cái cầu đá bắc qua con mương, vừa tự trấn tĩnh mình, vừa tự trách mình. Sao mà mình nhát vậy chứ. Rõ ràng là cô ấy gợi ý mời mọc chứ còn gì nữa. Thế mà mình lại sợ, lại bỏ chạy. Mấy ngày sau đó, khi còn nghỉ dưỡng quân ở làng, hễ Oanh nhắm mắt là cái bụng lùm lùm và hai bầu ngực trắng ngồn ngộn lại hiện lên. Khi vào tới xã Kỳ Tiến, huyện Kỳ Anh, Oanh mới nguôi đi được. Tất cả là nhờ chị Túy.
Chị Túy có chồng đi B đã sáu năm, nhưng chị vẫn cứ trẻ và đẹp. Nhà chỉ có chị Túy và con bé Nhung năm tuổi. Hai mẹ con ngủ trong buồng. Hai gian nhà ngoài chị nhường cho tổ ba người của Oanh. Biết Oanh là sinh viên đại học Y, chị Túy qúy anh lắm. Tiểu đoàn nghĩ dưỡng quân hơn một tuần ở Kỳ Tiến. Cứ cơm chiều xong là cánh lính biến ngay vào làng. Chỉ còn mẹ con chị Túy với Oanh ở nhà. Oanh vẫn hay chơi đùa với con bé. Nhiều khi bồng con bé trả lại cho mẹ nó, Oanh đã vô tình chạm tay vào ngực chị. Duy nhất một lần anh được chị Túy ôm chầm lấy, rồi liền đó lại đẩy ra. Làm gì chuyện ấy lại dễ dàng như tay Sơn kể được.

Đêm sập tối như trở bàn tay. Cánh đồng bị nén lại đặc quánh. Màn đêm nhưng nhức chạm vào mắt. Bất chợt bùng lên những chùm sáng lóa mắt. Rồi tiếng trọng liên rít lên sằng sặc. Đạn nhọn veo véo mát lạnh hai bên mang tai. Tiếng máy gầm rung cả mặt đất. M41 và M113 của chiến đoàn 56 nằm nấp dưới những khúc đìa cạn. Tổ săn lùng nằm phơi lưng dưới những làn đạn trọng liên bắn xả ra như trút nước.
Phương bật máy lên sóng, nhưng không thể nào liên lạc được với E bộ. Tiếng tham mưu trưởng hét như gào lên: “Tất cả theo phương án 1! Phương án 1!”. Oanh hiểu là phải rút nhanh về phía tây. Anh thấy Sơn chồm lên, ngồi qùy chân, nòng B41 hướng về phía trước. Một vài quầng lửa bùng lên chói lóa. Oàng đùng. Oàng đùng. Tiếng B40, B41 gầm lên dắng dỏi. Phương ôm máy lăn về phía Dũng. Khẩu trung liên RPĐ nhả đạn giần giật. 
Dũng nói như hét vào tai Oanh:
- Ông với thằng Phương rút ra ngoài đi! Bọn mình lọt thỏm giữa đội hình chúng nó rồi. 
Tiếng tham mưu trưởng lại vang lên:
- Tất cả theo phương án 1! Phương án 1!
Oàng đùng. Oàng đùng. Veo véo veo véo. Màn đêm bị đạn lửa cắt vụn ra. Pháo sáng bắn lên trời tua tủa. Có tiếng đầm già. Rồi pháo dù treo lơ lững trên đầu. Oanh nhìn thấy Tấn Cường và tham mưu trưởng. Rồi anh nhìn thấy Ngọ. Cái áo pô lin phăng của Ngọ rách tơi tả. Lực chạy sát bên Ngọ. Hình như anh ta chỉ còn hai trái B40 thì phải. Như vậy là Ngọ đã bắn gần hết cơ số đạn mang theo. Anh chàng Nghệ An nhỏ con này nhanh thật. 
Sơn ở đâu trờ tới, thở hồng hộc. “Mẹ kiếp! Nó nằm dưới đìa, không thể đứng lên bắn cắm xuống được”. Phương hét vào tổ hợp. “Thiên nga gọi phượng hoàng, nghe rõ trả lời!. Thiên nga gọi phượng hoàng, nghe rõ trả lời!”. Tấn Cường thúc nòng súng vào hông anh. “Tắt máy mà chuồn. Ăng ten lá lúa, liên lạc thế quái nào được”. Phương kéo tay Oanh. “Chạy theo hướng này. Biên giới phía này này”. Tham mưu trưởng Ngôi cắp khẩu AK Tiệp trên tay, chạy tới xô vào lưng Oanh. “Rút nhanh! Bám theo nhau mà rút. Sáng ngày mà lạc giữa đồng trống thì banh xác cả đám”. 
Veo véo veo véo. Trọng liên địch sủa từng tràng xối xả. Đèn dù và pháo sáng nổ bùng bục. Bầu trời sáng lựng lên vàng ệch. Nhờ thứ ánh sáng qủy quái ấy mà cả tổ săn lùng bám theo nhau rút được ra ngoài.
Tiếng súng vụt tắt một cách kì lạ. Những trái pháo dù cuối cùng cũng tắt lịm. Chiếc đầm già đã mất hút về phía nào đó. Đêm đen kịt như có thể cắt ra được từng miếng.
Tham mưu trưởng nói:

- Chúng chưa xác định được ta nên mới không truy đuổi. Từng người kiểm tra xem có ai bị thương không.

Tất cả vẫn an toàn. Chỉ có Phương là bị rách bả vai do đạn nhọn sượt qua. Còn Ngọ thì hai tai điếc đặc. Trong mười phút, Ngọ đã bắn tới sáu qủa B40. Tốc độ thao tác vào loại kỷ lục ở chiến trường. Phương tháo nắp máy, vứt bỏ bộ pin cũ, thay bộ pin mới. Máy PRC25 của Mỹ. Pin cũng của Mỹ. Anh thay ăng ten lá lúa bằng ăng ten bảy đốt, rồi lên sóng. Tiếng Minh vang lên: “Phượng hoàng gọi thiên nga. Giữ nguyên phương án 1. Bảo đảm an toàn cho cả tổ. Thiên nga nghe rõ trả lời”. 
Tổ săn lùng bám sát nhau đi cả đêm. Họ vượt sát Ba Gò lúc hừng sáng. Khi mặt trời lên, Lâm nhìn thấy con Đèo cưỡi trên lưng trâu. Tội nghiệp. Chắc nó phải đánh trâu về phía sông Trăng mới có cỏ. Cánh đồng mùa khô, đưng lác cháy rạp, khô không khốc. Tham mưu trưởng Ngôi lệnh cho cả tổ cắt phương vị theo hướng trái. Ông sợ trực thăng phát hiện bắn rốc két, nguy hiểm cho cô bé.
Nhưng thật may. Suốt cả buổi sáng hôm đó, bầu trời không hề xuất hiện một chiếc máy bay. Cả tổ vượt sông Trăng tại địa giới sóc Tà Len lúc đúng ngọ. Ai nấy thi nhau thở ra cả đằng mồm, đằng mũi, đằng tai. Khát cháy cổ họng.
Đến gò thốt nốt, cả tổ dừng lại nghĩ sức. Nhìn thấy ngoài cánh đồng trống có lùm bình bát, Sơn nói với Oanh:

- Đi kiếm nước uống không? Có bình bát là có nước.

Oanh theo Sơn đi về phía lùm bình bát. Qủa nhiên ở đó có một hố nước trong vắt. Hai người đánh đu vào cành cây, cúi xuống uống ừng ực. Nước mát và ngọt lịm. Oanh uống no nê rồi vục đầu xuống nước. Chưa bao giờ anh thấy đã trong người như thế. Năm ngày lang thang giữa đồng khô cỏ cháy. Một đêm hú hồn hú vía giữa hỏa lực chiến đoàn 56. Giờ thì sắp về tới căn cứ tiểu đoàn trên đất bạn. Chiều nay sẽ có cơm trắng cá kho. Biết đâu còn có cháo gà. Thằng Minh đã hứa: anh cứ về tới nơi là tụi em khao anh một chầu ra phết. Còn thằng Đạt thì khác. Nó dúi cho Oanh một gói cotab, hẹn, em còn tờ năm trăm mới cứng, anh về an toàn là xong ngay. Nhớ lại chuyện uống nước ở cái đìa bình bát với hai cô quân y, Oanh vỗ vai Sơn nói, mày nhìn kĩ xem có thằng nào nó chui xuống đây chết không nhé. Mẹ khỉ, có ra trận mới biết, lính ta lính nó thi nhau chết đủ các kiểu. Mấy thằng được chết dưới đìa nước trong vậy mà lại may, vì rồi thế nào cũng có người nhìn thấy, động lòng đem lên chôn cất, chứ đêm qua tao với mày mà trúng đạn, chắc chắn phơi thây ngoài đồng, tha hồ cho quạ nó rúc rỉa.

C trưởng Nguyễn Bá Thiệu thấy cả bốn người A hoả lực trở về nguyên vẹn, mừng ra mặt, vỗ vai Ngọ nói, tôi nhận ra ông rồi, ông là cái thằng chửi bọn hậu cần ngu không chịu may quân trang tới cỡ số 5 chứ gì. Báo cho ông tin mừng, tổ phẫu thuật tiền phương của E bộ vừa chuyển đến sát C2 ta đấy; đêm nay ông chịu khó mặc quần đùi, đưa hai cái quần dài đây, tôi nhờ mấy thím quân y họ thu nhỏ lại cho. Chính trị viên Tùng nghe nói tổ bốn người A hoả lực đã trở về an toàn, cũng tìm đến, lần lượt bắt tay từng người; khi đến lượt bắt tay Ngọ thì vỗ vai anh ta, khen lấy khen để. Cậu nhỏ con mà giỏi thật đấy. Chưa đầy chục phút mà bắn được sáu quả B40 thì quả là quá giỏi. Có bị điếc tai không đấy? Ngọ nhe răng cười, nói với cả Tùng và Thiệu. Điếc thì chưa điếc, nhưng thưa với hai thủ trưởng, cả hai tai em bị chảy máu, giờ cứ vo vo như có ong nó bay trong ấy. Dũng đang ngồi lau khẩu trung liên RPD gần đấy, ngước mặt lên nói. Hai thủ trưởng khen thằng Ngọ thì quá bằng thừa, nó là cái máy bắn B40 xưa nay đấy. Báo cáo với hai thủ trưởng, cái thằng Lực lính mới tò te này mới giỏi. Giáp trận lần đầu, lại bị phơi mình dưới hoả lực mà nó không bỉnh ra quần mới đúng là giỏi chứ. Như cái thằng Sơn kìa. Lần đầu đánh đồn ở Kinh Xáng, khi tếp cận hàng rào thứ nhất chờ nổ súng, em đang nằm bỗng nghe khai rình, té ra ông tướng ấy đái ra quần. Em nghiệm ra rồi. Lính ta thằng nào nhát gái thì thằng đó giỏi trận. Thằng nào nhát trận thì thằng đó giỏi gái. Không tin các thủ trưởng cứ thả thằng Sơn qua bên trạm phẫu vài ngày thì biết, đảm bảo chín tháng mười ngày sau quân số trung đoàn sẽ tăng lên mấy người. Sơn đang ngồi thả hai chân đòng đưa trên võng, chồm ngay dậy, nói oang oang. Ông nội ơi, ông lại chưởi ông rồi. Ông vừa khen thằng Lực giỏi trận mạc, vậy mà nó là thằng duy nhất của tiểu đội ôm được cô Miền đấy. Chắc thằng này khôn từ lúc còn chèo thuyền trên sông Luộc. Lực, đúng không mày? Lực cười hì hì, Em dàn dựng mãi mới lặn xuống húc đầu vào bụng vào ngực cô ấy được. Phải chi A trưởng đừng bơi xuồng ra, có khi em còn được hà hơi thổi nhân tạo vào miệng cô ấy. Đúng lúc ấy thì Minh và Đạt về tới, vứt phịch hai con ngan xuống đất. Đạt đứng nghiêm đưa tay lên vành mũ tai bèo chào và nói. Em vừa vào trong Sóc mua được hai con ngan với mấy ống nước thốt nốt chua, chiều nay mời hai thủ trưởng liên hoan với bọn em. Hai con ngan to tướng thế này mà chỉ hết có năm mươi ria thôi đấy. Minh đứng bên cạnh, vừa huých cùi chỏ vào hông Đạt vừa nói. Thằng này học đến năm thứ hai đại học xây dựng rồi mà ngu bỏ mẹ. Năm mưởi ria là tiền mua chai A Nít tròn với mấy ống nước thốt nốt chua, còn ngan là người ta cho đấy ông ơi. Các thủ trưởng biết không? Em dạy sao nó nói vậy. Mua ngan của người ta mà nó nói với cô gái Miên thế này thì có đúng là nó ngu không? “Ôn ơi ôn, oi boòng rùm đo xum bi côn mon côn tia”. Em dạy nó hỏi xin con gà con vịt của người ta mà nó có biết đếch gì đâu. Nhờ nó đẹp trai nhất tiểu đội mà cô gái bắt hai con ngan cho nó đấy. Khi ra về nó hỏi em, chào cám ơn người ta thì nói là sao, em lại phải dạy nó, muốn cám ơn người ta thì phải nắm tay người ta thật chặt rồi vừa lắc lắc vừa nói “ôn xa lanh boòng tê?”. Thế là cái thằng đẹp trai đại ngu này nó cứ nắm tay người ta nói đi nói lại, “ôn xa lanh boòng tê, ôn xa lanh boòng tê”. Đấy, đã xin của người ta hai con ngan, lại còn hỏi người ta có yêu mình không. Ra là lính sinh viên cũng có chỗ ngu, phải không hai thủ trưởng? Đạt đứng đút hai tay túi quần, vừa nheo mắt nghe chuyện vừa cười tủm tỉm, nói với Oanh. Em biết nó xúi dại em, nhưng em vẫn giả ngu nói ôn xa lanh boòng tê, khiến cô ấy đỏ gằm mặt cúi đầu xuống. Em nhìn no hai con mắt hai bầu ngực của cô ấy. Nó to như hai trái bưởi chín mọng, đầu vú có hai cái núm nhỏ như hai núm cau, đỏ hồng đẹp lắm. Em thề có cây thốt nốt làm chứng, vú con gái Khơ Me đẹp hơn vú con gái Việt. Sơn nghe vậy liền hỏi. Mày thấy vú con gái Việt bao giờ mà dám nói vú con gái Khơ Me đẹp hơn hả Đat. Đạt đáp khủng khỉnh, tao nhiều lần chứng kiến mấy bà ở quê vạch áo cho con bú, cứ thay nhau bên này tới bên kia, phơi ra lồ lộ. Lực cười hềnh hệch. Sinh viên mà ngu bỏ mẹ. Vú mấy bà có con xệ xuống rồi, đẹp thế đéo nào được như vú con gái. Hôm ở sông Trăng, tớ ôm cô Miền bơi kéo vào bờ, tớ biết vú cô ấy căng tròn cứng ngắc, chứ không nhão nhoét như vú mấy bà nạ dòng chúng mày vớ bẩm nhìn thấy. Đúng lúc đó tham mưu trưởng tiểu đoàn Nguyễn Văn Ngôi cùng C trưởng Nguyễn Bá Thiệu bước tới. Tham mưu trưởng nói với C trưởng. Mấy thằng này biết mùi gái cả rồi, chiều mai ông lại cho chúng vào tổ chuẩn chiến tìm diệt xe tăng, chúng có chết cũng không uổng đời trai. Mai ông đi luôn với tôi, diệt bằng được xe tăng lấy màu, mở đầu cho chiến dịch mùa mưa.

 phần 3: PHÁC THẢO "LÍNH 207"

3.
Sau chuyến bắn hạ hai chiến xa M48 của chiến đoàn 56, chúng tôi được dưỡng quân tại sát biên giới sông Trăng, thuộc tỉnh S’Roai viêng thêm hai mươi ngày nữa, nhằm chỉnh đốn quân khí, quân số để chuẩn bị tiến sâu vào vùng bốn chiến thuật Sài Gòn. Tất nhiên Sơn và Đạt được tưởng thưởng về chiến công của họ. Anh em trong K bộ D1, ai cũng coi họ là những anh hùng thực sự. Đạt thường nhún vai tỏ ra bất cần khi được mọi người ca ngợi. Anh ta coi chuyện bắn cháy xe tăng dưới đìa cạn cũng như chuyện chó ngáp phải ruồi. Với ai anh ta cũng nói. Thằng nào được phân công mà không bắn cháy. Nó nằm rũ nòng pháo xuống làm mồi cho mình, bắn không trúng mới khó chứ; mình cách nó có vài mét, ngồi quỳ xuống bắn thì không trúng sao được. Với Sơn thì khác. Anh ta lợi dụng chuyện này để uống trà Củ Măng, hút thuốc Rubi quân tiệp vụ, thuốc Presidan không mất tiền. Anh ta ngồi khoanh chân chữ ngũ giữa những người lính thích hóng chuyện, vừa nhấp từng hụm trà trong ca inox, vừa chép miệng nói tỉnh bơ. Ông Ngôi lệnh cho tớ với thằng Đạt tụt xuống hai cái đìa cạn, bắn mỗi thằng một phát vào xe tăng của chúng rồi rút ngay. Đêm dưới đìa cạn tối thui, nhưng tớ vẫn nhìn thấy xe tăng của chúng lù lù một đống, nòng pháo được hạ thấp xuống tránh bị phát hiện. Tớ còn nhìn thấy mấy thằng lính ôm súng tựa xích xe tăng ngồi ngủ. Mẹ kiếp, lính tráng gì mà ngủ say như chó chết. Tớ biết B40 không thể khoan thủng tháp pháo, còn bắn vào xích thì đếch diệt được xe tăng của chúng. Phải bắn vào nơi chứa bình đựng xăng, tức bắn vào kẹt xe phía sau, nhưng tớ thấy thế đéo nào là chỗ kẹt xe phía sau, bởi vậy tớ phải mò lại gần hơn nữa; bụng nghĩ, một phái xe không cháy thì tương thêm vài phát nữa. Bắn nhanh là nghề của tớ mà. Nói đến đó Sơn lại nhấp một ngụm trà, ngồi chỏi tay ra phía sau nói. Trà Củ Măng ngon thiệt, nhưng đọ sao lại trà Tuyết quê tớ. Tớ thề cả thế giới đéo có thứ trà móc câu nào ngon hơn trà móc câu Thái Nguyên. Mấy cô công nhân nông trường chè, mông cô nào cũng to như cái thúng, đã nhất là lúc mấy cô chổng mông lên trời, cúi xuống hái những búp chè dưới thấp. Mông gì mà tròn lăn lẳn. Sơn háy mắt một cái rồi giả vờ hỏi. Tớ kể đến đâu rồi nhỉ? Thằng nào còn thuốc, đưa tớ một điếu để tớ nhớ lại nào. Khi được người đồng đội nào đấy châm cho một điếu thuốc, Sơn ngửa mặt phả khói mù mịt kể tiếp. Tớ vừa định lại gần hơn nữa thì nghe tiếng B41 của thằng Đạt gầm lên, vậy là tớ đành phải ngoéo cò. Chiếc tăng vừa bốc cháy thì anh Thiệu nhào tới, nắm tay tớ kéo lên, thế nên tớ phải vác cả đống đạn còn lại chạy về. Mẹ khỉ, ai nói xe tăng Mỹ hiện đại chứ. Mới trúng đạn một phát đã cháy. Đạn pháo trong hai chiếc xe bị bắn cháy nổ rùm trời. Chắc cô Đèo bị miễng pháo trong xe nổ văng ra làm gãy xương chân. Chỉ béo cho thằng Đạt được phân công cõng cô ấy lên quân Y trung đoàn. Mà tớ cũng không cần chấp. Tớ biết cái ấy nó dọc ngang thế nào rồi. Cứ là sướng lịm cả người. Giờ tớ mà chết trận, tớ cũng đéo cần. Làm trai biết mùi đời rồi thì chết cũng không uổng. Phương thông tin vô tuyến moi bịch thuốc giồng sợi vàng của Miên ra quấn một điếu, vừa châm lửa vừa nói. Mày quê Hà Bắc chứ quê Bắc Thái lúc nào mà nói trà móc câu Thái Nguyên ngon. Rõ mày nói láo cả chuyện ngũ dưới gốc cây dẻ. Béo nhất vẫn là thằng Lực ôm cô Miền dưới nước, thằng Đạt cõng cô Đèo về cứ. Tao chỉ tin mỗi lời ông Ngôi nói, vú con gái Bến Tre to như hai quả dừa. Sơn vừa vồ lấy bịch thuốc sợi của Phương vừa trả lời. Thái Nguyên là quê ngoại của tao mẹ ơi. Có đâu như mày, quê nội quê ngoại chỉ một chỗ. Hèn gì mày kiết xỉn bỏ mẹ. Có thuốc ngon mà giấu như mèo dấu cứt. Ngữ như mày, làm sao gặp may được ngủ với gái đẹp trong đêm rừng bên đường chứ. Ai thích cứ giơ tay, tớ kể lại cho nghe. Đảm bảo con gái chánh hiệu, chúng nó thơm mùi hạt dẻ. Đúng lúc đó thì Lâm đến, nói với Phương. Trưa nay trung đội thông tin cử bốn người đi Tà Nu nhận pin chuẩn bị cho chiến dịch. Vậy là giải tán cả đám, bởi ai cũng biết, thông tin đi thì hoả lực cũng phải đi để nhận thêm cơ chế đạn. Đạt nói khủng khỉnh. Mấy tướng ở trên cứ tưởng dưới này tụi mình là trâu bò, vác nặng bao nhiêu cũng được. Đứa nào thích diệt tăng, tớ nhường khẩu B41 cho đấy. Lính Sài Gòn, chúng nó có ô tô, máy bay chở đạn dược đến tận nơi, sướng đến thế là cùng. Đánh đấm mà không phải lo cơm gạo, đạn duợc, thuốc men thì nhất trời nhì chúng. Thảo nào chúng cứ nhây ra, đánh mãi cũng chẳng chịu thua. Sơn nghe vậy thì phẩy tay. Thua nhanh quá, bọn quan đầu triều ở Sài Gòn giàu lên thế đéo nào được; không nhớ chuyện vợ lão Cao Văn Viên bán xe tăng, đạn pháo cho ta ở biên giới sông Trăng à. Chiến tranh chỉ tổ chết lính tráng với dân nghèo. Còn bọn quan lại với bọn buôn súng thì vớ bẩm.

Đúng ngọ trưa ấy, D1 cử tới một phần ba quân số đi Tà Nu nhận gạo và nhận vũ khí trang bị. Các C đều cử đại đội phó đi theo phụ trách. Tham mưu trưởng Nguyễn Văn Ngôi phụ trách chung, cùng với hơn mười người K bộ, trong đó có cả Lâm B thông tin. Đi cùng Lâm là Nguyễn Văn Mỹ, quê Hà Bắc, người cùng vào chiến trường B2 Nam Bộ cùng anh trong đội hình đoàn 568. Mỹ cao lộc ngộc nhưng không đô con như Lực, là người lúc nào cũng như mơ như mộng; thậm chí trong những cuộc hành quân đêm anh ta cũng có thể nhìn các vì sao mà tưởng tượng ra đủ điều. Anh ta nói sao Gàu Sòng là sao quê hương, sao Bắc Đẩu là sao thủ đô Hà Nội. Quê hương anh là vùng trồng thuốc lào Tiên lãng. Mỹ nói gái quê anh ngày nào cũng phải tát gàu sòng, đưa nước từ dưới mương thuỷ lợi lên những cánh đồng cao. Tát mãi nên cô nào ngực cũng to. Trưa mùa hè nóng quá, các cô khi ngồi nghỉ trên bờ mương, thường cởi khuya áo ngực, dùng nón quạt phành phạch đưa gió vào, làm mát cho hai bầu vú đồ sộ lấm tấm mồ hôi. Anh ta nói mồ hôi rịn ra lấm tấm ở chỗ ấy là những hạt ngọc, gọi là ngọc thôn nữ. Ngay cả khi đi đi tát gàu dai với các trai làng mới lớn, các cô cũng phanh ngực ra quạt như không có ai đang nhìn lén ngực họ hau háu. Một lần không biết thế nào, cô Hạnh phó bí thư đoàn xã đi tát gàu dai với anh, khi ngồi xuống nghỉ, cô ta phanh ngực áo ra quạt, Mỹ nhìn thấy trên vú cô có con đĩa trâu to mọng như ngón chân cái, căng mọng lên một cục thùi lùi. Bắn máy bay trên ruộng thuốc lào Hạnh không sợ, mà gở con đĩa trên ngực thì cô sợ cuống cả lên, nói ríu cả lưỡi. Mỹ ơi, gở con đĩa cho chị Mỹ ơi. Nhanh lên Mỹ ơi. Mỹ thọc bàn tay vào chỗ ấy của cô phó bí thư đoàn xã, chụp lấy con đĩa trâu mà kéo. Khỉ gió con đĩa, nó mê vú con gái tới mức Mỹ phải kéo mấy lần nó mới chịu nhả ra. Khi con đĩa bị kéo vuột ra, máu trên bầu vú căng hồng mịn mượt của Hạnh túa ra, chảy thành dòng đỏ thăm thắm. Thấy Hạnh sợ rúm ríu, Mỹ phải móc đất sét đắp vào vết cắn, rồi chạy đi hái lá thuốc lào nhai một nắm lớn, lấy nón múc nướng mương rửa vú cho Hạnh, rồi đắp nắm thuốc vào, dùng bàn tay đè một lúc cho cầm máu rồi mới buông ra. Nghe Mỹ kể về chuyện ấy, Sơn trố mắt ra hỏi. Mày có nhìn thấy cái núm không? Thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa đấy. Mày ngửi thấy mùi hạt dẻ chứ? Mỹ lắc đầu. Tao chỉ thấy thương những hạt ngọc thôn nữ biến mất thôi. Sơn nghe vậy thì lè lưỡi ra. Láo hết. Lính tráng toàn láo hết. Con gái mà cho thò tay vào chỗ ấy, lại không ngửa luôn bàn đèn ra ấy à. Láo khoét ông tướng ơi. Lâm không biết chuyện ấy thực đến mức nào, nhưng mấy câu thơ trong cuốn nhật ký đời linh của Mỹ thì anh tin là thực.

những giọt thôn nữ phún ra long lanh trên da thịt của em
anh nhìn thấy cánh đồng làng ta mở ra mùa lúa chín
con cò bay lả bay la trong hoàng hôn chín lịm
khẩu súng gác đêm hè canh giữ cánh đồng trăng
anh ra đi từ dòng mương em tát nước gàu sòng
dáng dịu dàng cong vút cả đêm khuya
chỉ Bắc Đẩu nhìn anh và hẹn ngày về lại với quê hương

Lâm quý Mỹ từ những đoạn thơ như thế. Những đoạn thơ Mỹ viết trong sổ tay những ngày mới nhập ngũ, tức những ngày Mỹ vừa mới qua tuổi mười tám, mới học xong lớp mười, còn chưa kịp thi tốt nghiệp.

Khoảng bốn giờ chiều hôm ấy Lâm nhận được tin từ tham mưu trưởng tiểu đoàn, buối chiều anh em D1 tự nấu cơm ăn, ngủ lại Tà Nu, sáng mai tự ăn sáng rồi bảy giờ tập trung trở về đơn vị. Sẵn trong túi có tờ 500 đồng Sài Gòn tiền trợ cấp A trưởng vừa nhận hôm qua, Lâm dẫn Mỹ ra bờ sông Trăng, ăn cho biết cơm nhà hàng bên xứ bạn nó ngon thế nào. Với dân biên giới, tiền Miên tiền Việt gì cũng được; xương máu còn chia nhau, thì tiền bạc có là gì. Thấy cái quán nhà lá gặp bên gốc ô môi, anh em định chui vào đấy, thì thấy Tấn Cường được một anh bộ đội ra dáng lính chiến sành điệu chở bằng honda67 đến. Tấn Cường thấy Lâm thì lên tiếng. Đây là anh Thi, trinh sát gộc của trung đoàn. Còn đây là anh Lâm A trưởng thông tin vô tuyến điện, người tham gia tổ chuẩn chiến diệt hai xe tăng của chiến đoàn 56. Anh Thi nắm tay Lâm lắc lắc. Quý lắm. Tớ may mắn gặp được cậu. Ở đây dông quá rồi, ta đến quán chị Hai 207 vậy. Ở đấy toàn món ăn Việt nấu theo kiểu Nam Bộ rặt ròng, ngon lắm. Giờ mình chất bốn lên xe vậy. Tài xế E trưởng nó sấy nòng lên 90 rồi. Tin tớ nên nó cho mượn. Xe vọt còn hơn cả ngựa chiến nữa. Quả thật chất cả bốn người lên xe thì khó thật, phải một người ngồi lên cả tay lái, vậy mà chiếc xe vẫn chạy băng băng trên con đường đất nằm dọc theo bờ sông. Khi đã gọi thức ăn, anh Thi nói. Bữa nay gặp lính trinh sát cũ, từng sống chết với nhau trong trận Bát Tam Boong, cho tớ khao ba anh em D1. Lính tráng cả. Chẳng cấp trên cấp dưới gì hết. Đứa nào uống la de con cọp được thì uống cho biết, nhưng cấm được say, sáng mai còn cõng hàng cả chục cây số về đơn vị đấy. Đây là lần đầu tiên Lâm được uống bia Tiger. So với nó, nước thốt nốt chua chẳng thấm tháp đâu vào đâu. Mới được hai chai Lâm đã thấy phừng phừng, nhìn chị Hai 207 chủ quán, cứ như nhìn thấy ai đó quen lắm. Cũng chỉ là bộ bà ba màu đen thôi, nhưng sao chị ấy đẹp hớp hồn thế không biết. Dáng người duyên dáng. Gương mặt phúc hậu. Đôi mắt to đen dịu mượt như nhung. Môi trên hơi dày mà đỏ như tô son. Mỗi khi cười, hàng răng trên lộ ra đều tăm tắp, cứ như đó là ngà là ngọc. Đẹp nhất là mười ngón tay của chị. Đó không phải là mười ngón tay, đó là mười búp măng thon dài, nhìn dẻo như dính bết con mắt lại được. Lâm thích nhất khi được chị Hai 207 ngồi xuống bên cạnh, gắp bỏ vào ly cục nước đá và hỏi. Em là sinh viên địa chất à? Lính sinh viên là vốn quý của mặt trận đấy. Uống chút đỉnh cho vui thôi em à. Hết chai này rồi nghỉ. Em có vẻ thấm rồi đấy. Mà Lâm thấm thật. Lâm thấm giọng anh Thi ngâm bài thơ gì đấy Mỹ vừa chép ra cuốn vở ghi chép của chị Hai 207. Lính trinh sát gộc của trung đoàn mà anh ấy ngâm thơ hay cứ như nghệ sĩ, nghe chẳng thua gì giọng ngâm thơ của Châu Loan trên Đài Phát thanh Giải phóng. Ngâm xong anh vỗ vai Tấn Cường nói. Tụi mình thêm một chai nhé. Tớ nhớ trận Bát Tam Boong cậu cởi trần trùng trục, chui rào cắt dây thép gai, thế quái nào cậu quờ trúng trái sáng, cả một đống lửa sáng chói phụt lên, lính trong đồn bắn xối ra như xả đạn. Ai cũng nói cậu phơi xác hàng rào rồi. Ấy thế mà cậu sống nhăn chui được ra. Mẹ khỉ, lần đó cậu truồng thuồng luổng, cả người đen nhẻm bùn sính, chỉ hai cái mông là trắng phếu. Vậy mà tụi lính đồn nhìn không thấy, cứ tưởng là chuột chạy đụng pháo sáng. Cả bốn thằng lính trinh sát chui hàng rào cắt dây thép gai đêm ấy toàn cởi trần, có đứa đếch nào dư quần đùi cho cậu mượn. May trên đường về gặp được cô gái Miên cho cậu mượn cái khăn rằn. Tớ thích mấy câu này của thằng Mỹ. Lính Hải Phòng thảo nào nó viết cứ như rút ruột mà phơi ra.

chống càn tới ngày thứ ba
đất cát tung bành cùng gạo rang và nước uống
lính tráng râu ria xồm xoàng như thổ phỉ
có đứa còn độc cái quần đùi
chỗ ấy cũng rách phơi ra thằng nhỏ lòng thòng
đói khát xanh xương còn gì mắc cỡ
may lính chồng càn chẳng có đứa nào là nữ
sẵn dịp thì đo xem cái cột chống trời
nó cỡ nào mà quật quân thù vỡ mặt

Lâm thấy Thi chém bàn tay vào màn đêm, nói như đóng đinh. Tớ cam đoan, chỉ lính chiến trường mới viết ra chất lính. Đéo có chuyện lính ta chết nằm ôm gốc lúa mà hồn bay lên trời đâu. Mày còn nhớ khi chúng ta đánh chiếm Bát Tam Boong không Cường? Có cả hai cái xác đàn bà chết nằm trần truồng đấy. Đó là xác Việt Kiều bị bắt vào đồn tra tấn đánh đập, rồi xẻo vú, rồi cắm cọc vào cửa mình. Tao nhớ thằng Thông hôm ấy nó nổi điên lên, Nó xả cả một băng AK vào ngực thằng trung uý trưởng đồn. Có thằng nào cản nó đâu. Có thằng nào khai báo với cấp trên đâu. Thương nhau như lính phải không Cường. Giờ mày về D1 thì mày vẫn là lính E207 đấy. Ráng mà học theo chị Hai 207. Chị là chị hai, là linh hồn của E207 đấy. Thôi, ta dừng ở đây. Chiến trường còn dài lắm. Mai này vào vùng bốn chiến thuật của chúng, tha hồ mà uống bia con cọp.

Tối ấy cánh K bộ D1 trải các tấm tăng, nằm dọc nằm ngang, ngủ phía dưới cái nhà sàn bằng gỗ của một bà goá người Miên chừng bốn mươi tuổi. Lúc xuống xe, nhờ ánh đèn pha, Lâm nhìn thấy mấy cây đào lộn hột, lúc lỉu trái chín màu đỏ, màu vàng. Mỹ nói vào tai anh. Quả này ăn được đấy. Hôm nọ em vô chùa sóc Miên với thằng Phương ăn thử rồi, chua chua ngọt ngọt mà hơi chan chát anh ạ. Lâu ngày chưa được ăn trái cây, Lâm cũng thấy thèm, nhưng nghĩ đó là trái cây của dân nên không dám hái. Khoảng gần chín giờ tối, nghe tiếng anh em ngủ say ngáy khò khò, Lâm nắm tấm tăng của Mỹ, giật giật hỏi. Mày biết chỗ đi ỉa chứ? Uống có hai chai bia mà vừa mắc đái vừa mắc ỉa. Đêm hôm thế này, khổ quá Mỹ ơi. Không quay đầu lại, Mỹ nói tỉnh bơ. Ra ngoài vườn mà ỉa. Nhớ moi cái hố, xong rồi lấp cát lại. Lúc Lâm lọ mọ đứng dậy bước ra vườn, chợt Lâm nghe bà chủ nhà nói tiếng Việt rất sõi. Bộ đội cầm cái cuốc ở góc nhà kia kìa, đi ra chỗ mấy cây đào lộn hột ấy. Mẹ khỉ. Chưa đi mà đã bị đàn bà bắt quả tang. Cái bà này là ma chứ không phải người. Nhưng lỡ rồi thì cứ đi thôi. Mắc gì cũng nín được, chứ mắc đái mắc ỉa thì nín thế quái nào. Khi ngồi xuống dưới gốc cây, thấy một quả đào lộn hột chín đỏ ối trước mặt, Lâm nhìn trước nhìn sau rồi thò tay hái một quả đút vào túi quần, bụng cứ lo nơm nớp. Lỡ bà chủ biết được, bà ấy la toáng lên thì có mà chết. Bộ đội Việt Nam hái trộm trái cây của dân Camphuchia, còn ra thể thống gì nữa. Không được lấy của dân từ cây kim sợi chỉ cơ mà. Đằng này cả một trái đào lộn hột chín đỏ ối. Sợ quá Lâm nói nhỏ vào tai Mỹ. Tao lỡ hái một trái đào lộn hột rồi, mày ăn thử không? Mỹ cười hềnh hệch. Ở đây họ chỉ lấy cái hột mọc ra dưới quả đào, còn quả đào họ vứt đi đấy. Việc gì anh phải giấu như mèo như mèo giấu cứt cơ chứ. Vừa lúc ấy Lâm nghe tiếng bà chủ nhà vẳng lên rõ mồn một. Các bộ đội muốn ăn trái cây à? Nhà còn một buồng chuối chín và trái mãng cầu xiêm đấy. Lại dưới cầu thang mà ăn. Trời ạ Sao cái bà phải gió này, cái gì bà ta cũng biết cơ chứ; không khéo lúc mình ngồi chò hỏ xoa hai bàn mông bị muỗi đốt nhoi nhói dưới gốc cây, bà ấy cũng nhìn thấy chắc.

Sáng ngày, lúc trời còn nhờ nhờ tối, Lâm đã thức dậy, móc túi áo lôi ra miếng lương khô, chưa kịp chia cho Mỹ một nữa, đã thấy bà chủ nhà bưng khệ nệ một cái rỗ bốc khói, từ trên cầu thang đi xuống. Bà ta đặt phịch cái rỗ trước mặt Lâm rồi nói. Các bộ đội Việt Nam ăn xôi đi. Cứ ăn cho no. Dân sóc này ai cũng quý bộ đội Việt Nam giúp vay Lon Non hết. Cả K bộ đã thức dậy, cùng bốc xôi chấm muối lạc mà ăn. Mỹ nói với Lâm. Bà này là vợ goá một y sĩ Khơ Me đỏ, vừa hy sinh đấy. Hai đứa con trai bà ta đang ngồi trên nhà nhìn chúng ta đấy. Lâm nhìn lên cửa sổ ngôi nhà, quả nhiên có hai thằng bé thật. Bốn con mắt của chúng đen lay láy, nhìn chằm chằm bộ đội Việt Nam không chớp mắt. Khi đã xốc ruột tượng gạo mười lăm cân lên lưng, thắt chặt miệng bồng có hai lố pin khối, Lâm cùng anh em K bộ chào cám ơn bà chủ rồi nhập vào đoàn lính tráng vác nặng các thứ ra đi. Mới đầu Lâm và Mỹ còn đi trong đội hình, nhưng rồi càng đi Lâm càng rớt lại. Cuối cùng cả Lâm và Mỹ thành ra hai người đi lẻo đẻo một mình, cách đội hình vài trăm mét. Khi gặp hai người phụ nữ đội hai cái thúng trên đầu, Lâm nghe một người phụ nữ nói với bạn. Rùm đo Việt Nam o cầm năng hơi. Tự ái vì bị chê yếu sức khoẻ, hết sức khoẻ rồi, Lâm ngồi phịch xuống bên đường, nói với Mỹ. Ta ngồi nghĩ một lúc rồi đi tiếp. Chưa tới chín giờ sáng mà trời nắng cứ chang chang như dội lửa. Mới ngồi xuống bên đường một lúc đã thấy có cái xe hai bò kéo lọc cọc xuất hiện. Cái xe được hai con bò bô lực lưỡng lông màu xám trắng kéo tênh tênh như kéo đồ chơi. Trên xe có ông lão chít khăn rằn trên đầu, cầm cái roi tết bằng sợi mây, hỏi hai anh em bằng tiếng Việt lơ lớ. Bộ đội Việt Nam về sóc Tà Thum à, lên xe ta cho đi. Cả hai leo lên xe ngồi lắc lư phía sau lưng ông già. Còn ông già thì ngồi im phắc như pho tượng. Lâu lâu ngọn roi mây lại vút rin rít vào không trung, cùng những tiếng kêu vinh vinh vinh đều đặn; nghe cứ như ông lão đang đếm từng sợi nắng ong ong chiếu thẳng vào gương mặt đẹp gầy guộc khắc khổ. Nhờ vậy, Lâm và Mỹ về tới B thông tin, gần như cùng lúc với anh em K bộ. Trịnh Phương nói với Lâm. Chiều hôm qua có đơn vị Khơ Me đỏ về đóng ở phum bên kia cánh đồng, sáng nay thức dậy, em với thằng Bảo bị mất hai đôi dép đúc, bên B hoả lực cũng bị mất hai đôi. Bọn Khơ Me cò hom chứ không ai vào đây anh ạ. Bọn này mê súng AK với dép đúc của ta lắm. Chúng nó giả làm dân về sóc thăm gia đình, anh em mình hở ra cái gì là chúng lấy liền. Đêm nay trực gác, em mà phát hiện em bắn chết bỏ.

Đêm ấy quả nhiên bên B trinh sát, lúc quá nửa đêm, Lâm nghe thấy tiếng Ak nổ khô khốc. Xách chiếc đèn pin cổ ngoéo chạy qua, Lâm thấy anh trung đội trưởng trinh sát đứng xua tay, dáng như đang phân bua với mấy người lính từ ở đâu chạy lại. Các đồng chí về đi. Chỉ là anh gác đêm bị cướp cò súng. Thế nhưng khi nấn ná ở lại, anh nghe một người lính trinh sát nói với bạn. Tao đoán thế nào nó cũng đến, nên buộc dây vào cò súng, khi nó nắm nòng súng kéo ra thì đạn nổ, thế đéo nào lại không trúng nó, nhưng nó cũng kịp cuỗm của tao đôi dép rồi. Khơ Me đỏ mà còn tệ hơn cả lính Lon Non Xi Rích Ma Tắc. Khi Lâm về trở lại lán của mình thì nghe có tiếng súng dội lên từng tràng dóng dã ở cái phum phía bên kia cánh đồng. Rồi thì anh Hai Mai tiểu đoàn trưởng, anh Tùng chính trị viên cùng xuất hiện, nói mọi người ai ở đâu cứ ở yên đấy, không được rục rịch gì cả. Sáng ngày khắp K bộ râm ran kháo nhau, đêm hôm qua một đại đội của tiểu đoàn hai bị mất súng mất dép, tức quá nên quá nửa đêm kéo qua tập kích lính Khơ Me đỏ. Chỉ huy hai bên ngay trong đêm đã gặp nhau bàn bạc dấu nhẹm chuyện này đi, thành ra chẳng ai biết bên Khơ Me đỏ có thương vong gì không. Sau vụ này, cả hai bên đều ráo riết chỉnh quân, vừa tăng cường giáo dục ý thức đoàn kết quốc tế, vừa ban lệnh kỉ luật rất nghiêm ngặt. Bộ đội cả hai bên hầu như đều án binh bất động tại khu vực đóng quân của mình.

Một hôm Lâm bấm đèn pin đi kiểm tra gác, thấy có một bóng người cao lớn đang lom khom dưới mấy gốc thốt nốt. Tắt đèn pin lại gần, Lâm phát hiện ra một anh lính cao to đang chụp bắt những con tắc kè xuống bắt muỗi dưới gốc cây. Nhìn thấy Lâm, anh lính này toét miệng cười. Tớ tên Thông, lính bên đại đội đặc công, thấy bên này nhiều tắc kè nên mò sang bắt về cải thiện. Ngon tuyệt cú mèo nhé. Thịt gà so với nó, chẳng ra cái thá gì cả. Trụng nước sôi cạo sạch vảy, bằm nhỏ rán thành chả, chẳng có món sơn hào hải vị nào qua được đâu. Lâm bắt chước làm theo, bắt mấy con đem về, sáng ngày bằm nhuyễn đem rán lên. Ai nhìn thấy cũng lắc đầu. Khiếp bỏ mẹ. Con tắc kè vằn vện thế mà cũng dám ăn. Thế nhưng lúc rán lên, mùi thịt chín bay thơm nức mũi. Một anh lính xin ăn thử một miếng. Ăn xong anh ta nói. Ngon thì ngon thật, nhưng mà hãi quá, thôi một mình anh ăn đi. Đêm hôm sau Lâm lại đi bắt tắc kè. Lại bằm nhỏ rán lên. Lần này anh lính thông tin hôm qua không chỉ ăn thử mà ăn thật. Ngoài anh ta ra còn hai anh nữa xin ăn thử cho biết. Đông người thành ra năm con tắc kè bằm ra đem rán chẳng thấm tháp gì. Bởi vậy đêm tới bắt được có ba con, Lâm chỉ chặt bỏ đầu và bốn bàn chân rồi đem rán, thấy khiếp quá nên chẳng ai dám ăn. Lần tới Lâm cũng làm như vậy, bởi Lâm thấy xương tắc kè cũng đâu có cứng, rán chín lên nhai nghe rau ráu, ngọt lịm. Lại anh lính nọ nói ăn thử cho biết. Vừa ăn anh ta vừa nói. Ngon thật đấy. Cần quái gì phải bằm nhuyễn mất công, cứ để nguyên con mà rán. Thế rồi cả A thông tin vô tuyến điện ai cũng biết ăn thịt tắc kè; không rán thì nướng, kiểu gì anh em cũng ăn được. Ăn mãi thì thứ gì cũng hết. Quanh quanh chỗ A thông tin vô tuyến điện đóng quân, chẳng cây thốt nốt nào còn tắc kè cả. Khi lên trung đoàn bộ tập huấn thêm về kĩ thuật sửa chửa máy PRC25, Lâm tình cờ lại gặp Thông. Nghe kể chuyện lính ăn tắc kè béo tròn lẳn cả ra, Thông cười hì hì. Các cậu chớ dại vào chùa bắt tắc kè đấy. Sư sải nó thưa lên cấp trên thì bỏ mẹ. Chịu khó đem móc sắt ra chỗ mấy cây me keo ngoài đồng, thọc móc sắt vào bộng cây mà bắt, có bộng tới hai ba con đấy. Bọn tắc kè này thấy có gì thọc vào ổ của chúng là cắn ngay, chẳng con nào chịu nhả ra đâu. Vậy là A thông tin vô tuyến, rồi cả B thông tin, cả các ban bệ K bộ của tiểu đoàn, ai cũng ăn tắc kè; không rán thì xào, thì kho, ít quá thì đem nướng lên, đập tróc hết vảy rồi xé ra chấm muối. Suốt thời gian gần hai chục ngày đóng quân ở đất bạn, A thông tin vô tuyến điện của Lâm, hầu như chẳng đụng tới gạo cấp phát, ăn toàn cơm trắng của dân. Đó là thứ gạo hạt nhỏ mà dài, vừa dẻo vừa thơm. Đến bữa anh em cứ lấy gạo khẩu phần đổi cho dân nuôi heo, rồi lấy gạo của họ mà nấu. Rau thì cải trời cải đất mọc đầy ngoài gò ngoài bãi. Lại cả rau càng cua quanh quanh trong vườn nhà đem về ăn sống. Cá tôm ê hề ngoài đồng ngoài ruộng. Ai chịu khó đi tát hố bom, còn có cả rùa cả rắn. Hai chục ngày sống trên đất S’Roai Vieeng quả thật quá đúng nghĩa là dưỡng quân. Lính 207 hầu như ai cũng đỏ đắn, có da có thịt, thằng nào nhìn cũng đẹp phơi phới.

Thế rồi có lệnh tiểu đoàn chuẩn bị hành quân. Hai Mai cho Lâm biết, D1 sẽ vượt sông Trăng nhổ đồn Cái Xơ, mở thông đường cho cả trung đoàn tiến sâu vào vùng bốn chiến thuật, bởi vậy phải thông báo cho bộ đội chuẩn bị tre đào công sự, đề phòng địch phản pháo và tấn công chiếm lại đồn. Công việc đầu tiên là phải đến nhà dân có tre, xin tre chẻ ra làm miếng đan lót nắp hầm, và xin vài cây tre gai cỡ cổ tay để cắt ra làm đòn gác tấm đan. A thông tin vô tuyến chỉ có bốn máy với mười người, thành ra cứ hai người một hầm, nên ai cũng phải đến các nhà dân xin cây cối tre pheo. Lâm dành hẳn một buổi sáng cùng Trịnh Minh Phương đi đến cuối sóc Tà Thum xin tre làm công sự. Hai anh em tìm vào một nhà dân, hỏi xin cô gái mấy cây tre về làm công sự. Cô gái lắc đầu nguầy nguậy. Dơ, hồi sáng có bộ đội đến xin rồi, nhà hết tre rồi. Lâm nhìn ra góc vườn, thấy đúng là đã có người đến trước xin mấy cây tre rồi, giờ mà hai anh em xin mấy cây nữa thì nhẫn tâm quá. Hai anh em đang tính bỏ sang nhà khác thì thấy có ông lão râu tóc bạc phơ từ trên nhà sàn bước xuống. Rút cái tẩu thuốc to đùng trên miệng ra cầm tay, ông ta nói. Thạch Sara à, ta biết cái bộ đội Việt Nam này đấy, cho nó vài cây tre đi. Thì ra đó chính là ông lão đánh xe bò đã cho Lâm và Mỹ đi nhờ. Ông lão chẳng những cho hai người chặt đủ năm đoạn tre làm đòn gác nắp hầm, mà còn giúp họ chẻ tre đan thành miếng lót. Xong việc còn bảo con gái mời hai anh bộ đội uống nước dừa, nói là Việt Nam Campuchia xăm ma ki vay Lon Non tằng ngọp(Việt Nam Campuchia đoàn kết đánh chết quân Lon Non).

Lúc về gần đến nơi đóng quân, Lâm nhìn thấy anh Thi đeo ba lô và khoác khẩu AK đứng tần ngần bên gốc thốt nốt với mấy người nữa. Thấy Lâm anh Thi nói như reo. Lâm hả, cậu biết anh Hai Mai với anh Tùng ở đâu không, bọn tớ được điều xuống phối hợp với D1 điều nghiên đồn Cái Xơ đây. Đúng lúc ấy thì Hoành A trưởng A cối 82 của tiểu đoàn vác một cây tre dài bước trờ tới. Nhìn thấy Lâm và Phương có đòn tre và tấm lót đàng hoàng, anh ta chành miệng ra cười. Các cậu dân vận thế đéo nào mà giỏi thế. Tớ nói gãy cả lưỡi mà cuối cùng phải đổi gói lương khô mới được cây tre này đấy. Đem về chẻ ra phải kết được tới mấy tấm lót hầm ấy chứ. Phen này tớ phải đổi bọn nó được vài gói Ara là ít. Bộ đội xin mãi, đổi mãi, dân mấy phum sóc quanh đây con đếch tre pheo gà vịt gì đâu. Chí ít chuyến này tớ cũng moi tụi nó được ba bốn gói Ara. Một gói lương khô mà được một gói Ara đã hời to rồi nhé. Quẳng cây tre xuống vệ đường, Hoành vỗ vai Thi nói tiếp. Lính trinh sát trung đoàn các anh là nhất rồi, điều nghiên cái vèo là xong, đéo phải khổ uốn lưỡi đi xin tre như bọn này. Vác cả nòng cối 82 mà còn phải đèo theo bó đan, khổ còn hơn trâu bò ấy chứ. Thi cũng vỗ vai Hoành cười khì. Các cậu đánh xong là xong, còn bọn tớ đêm nào cũng phải thức như cò như vạc, xác xuất đạp mìn chết như bỡn ấy chứ. Thôi, lính tráng thằng nào cũng có cái sướng cái khổ của thằng nấy. Lán anh Hai Mai đằng kia phải không. Bọn này đi nhé. Các cậu mốt mới lên đường, còn chúng tớ đêm nay đã phải đi rồi. Chúc tụi mình sống nhăn răng cả đám với nhau nhé. Xăm ma ki nhé.

Tối ấy Lâm đi kiểm tra gác, thấy có đốm lửa lập loè bên gốc cây thốt nốt, đến nơi anh nhận ra Hoành đứng một mình phì phèo thuốc lá. Anh hỏi. Được mấy gói ông bạn? Chia cho tớ một gói được không. Tớ mới có cái zippo, không có thuốc điếu thì còn ra quái gì. Hoành tỏ ra ngạc nhiên hỏi. Anh đánh đồn nào mà có zippo? Số em nó rận rệp lắm. Kiếm được cả cây tre, chẻ ra kết được năm miếng đan, vậy mà đổi được có một gói Ara thôi, đến nổi phải đợi ban đêm chui ra ngoài hút lén này. Chúng nó mà biết, véo một cái hết liền. Lính lác xin xỏ dữ lắm. Nhiều đứa cứ kéo một hơi là ho sặc sụa, vậy mà cũng đòi xin cả điếu. Thế đấy. Đứa nào cũng xuất thân là trai làng, có biết quái gì đâu, vậy mà đi lính hôm trước, hôm sau đã bày đặt rượu chè thuốc lá. Làm như không biết hút thuốc thì không phải là lính ấy. Nể anh em mới biếu anh vài điếu đem về khai trương cái zippo nhé. Cứ nói là Ara xịn của thằng Hoành cối 82 nó biếu. Nhưng mà anh phải cho em xem cái zippo cái nào. Em cũng thèm tít thò lò mà chưa có đây. Trời lúc đó tối thù lù, nhìn gì cũng chỉ thấy nhờ nhờ, vậy mà Hoành cũng đưa cái zippo lên mắt ngắm nghía ra kiểu sành sỏi lắm. Biết là Hoành chẳng thấy gì, nhưng Lâm vẫn hỏi. Cậu thấy đẹp không? Zippo của tụi thuỷ quân lục chiến Hoa Kì đấy. Hoành bật nắp đánh keng một tiếng, rồi bật ngọn lửa phực lên xanh lè, quơ qua quơ lại nghe phực phực mấy cái rồi nói. Đã thật. Cầm đằm tay lắm. Mẹ kiếp, lính Mỹ dùng thứ đéo nào cũng tốt. Dùng toàn đồ tốt nên chúng đánh đấm chẳng ra đếch gì. Thôi, em phải về nằm ngủ đây. Ngày mai lại phải è cổ vác nòng cối rồi. Biết vậy em xin vào binh chủng xe tăng cho sướng cái thân. Khi Hoành đi rồi, Lâm thấy tức cười. Đúng là giày dép có số. Lính tráng cũng có số. Hồi cùng học khoá tiểu đội trưởng ngoài trường huấn luyện ở Mai Sưu với nhau, ai mà biết khi vào tới B2, Lâm lại thành A trưởng thông tin vô tuyến điện, còn Hoành là A trưởng cối 82. Hình như cứ thằng nào đô con, y như thằng đó dính tới súng cối. Mà đời cũng có cái duyên đấy chứ. Trong đợt tăng cường quân vào Nam của đoàn 568, một nửa bổ sung cho công trường 5 Miền Đông, một nửa bổ sung vào Nam Bộ, thế quái nào mà Lâm với Hoành lại cùng về K bộ D1 E207. Mà sao cái thằng Hoành với thằng Oanh hoả lực C2, chúng nó giống nhau vậy không biết. To con dềnh dàng như nhau, ăn nói bổ bả như nhau. Giống đến cả cái nết ăn ở nữa. Sức chúng nó mỗi bữa xơi tái cả hai lon gạo vẫn thòm thèm. Nhớ có lần cùng Hoành đi chặt nứa đóng bè ở Đèo Bụt, Hoành đem hai hộp thịt bò vào bản Cao Lan đổi được hai con gà. Anh ta cầm cả con gà luộc nhai nhồm nhoàm. Hết con gà anh ta hỏi Lâm. Anh ăn không nổi thì đưa em giúp cho, sức em thêm một con nữa cũng không nhằm nhò gì. Ăn xong, Hoành xoè bàn tay phải, vừa chùi cái miệng bết mỡ vừa nói. Thế đấy. Chẳng thấy ai thật thà như người dân tộc. Mỗi hộp thịt bò trăm gam đổi được con gà đồi hơn một ký. Họ thật thà đến ngu phải không anh? Lâm nhìn Hoành nói. Họ thật thà chứ họ không ngu đâu. Mày vào rừng có thấy con thú nào không. Vậy mà họ thấy đấy. Thằng Bảo nói nói. Người Cao Lan nhìn thân cây bị xước, biết là có con gấu trèo lên ăn mật. Nhìn gốc cây trầy vỏ, biết là bị lợn rừng đến cọ lưng. Họ biết đón lõng săn con nai, con hoẳng, chứ mày có làm được không? Ở đó mà phái ngu với khôn. Hoành thua Lâm một tuổi nhưng xưng em với Lâm ngọt xớt, là bởi Lâm từng làm A trưởng một tiểu đội khung của đoàn 568, có tới mười lăm người lính toàn là tiểu đội trưởng đang chờ đón tân binh. Bấy giờ sau đợt đưa bộ đội vào Nam, đoàn 568 giữ lại cỡ một trung đội gồm toàn A trưởng, chuẩn bị khung huấn luyện đợt tân binh tiếp theo. Tiểu đội của Lâm đến đóng dưới chân Đèo Bụt. Toàn là A trưởng với nhau nên chẳng việc gì Lâm phải làm công tác tư tưởng. Một tháng trời ở không. Bồi bổ toàn món ăn trên rừng trên núi, dưới suối dưới khe, anh nào cũng béo tròn béo trục. Nhàn cư vi bất thiện. Ngày nào lính ta cũng thay nhau mò vào bản tán gái. Đêm về ôm nhau nằm ngủ trong lán nứa tránh cái rét vi vút của rừng, anh nào cũng thì thầm khoe với nhau về chiến tích lùng sục. Hoành nói. Con gái Dao Tiền coi vậy chứ dễ xơi lắm. Cứ nói mình sắp ra mặt trận là nó cho tất tần tật. Ra bờ suối ngồi ôm nhau tình tự thì chẳng có gì sướng bằng. Nó càng khóc thút thít vì thương mình, mình càng được trớn đấy. Tớ thì… đứa nào cho tớ là tớ xơi tuốt. Đằng nào cũng cần có lính mà trường kì khói lửa chứ. Đánh nhau chết hết thì lấy ai mà đánh nữa. Muốn thắng, gì thì gì cũng cứ cần phải có lính, thật nhiều lính vào. Hậu phương hết lòng vì tiền phương, thảo nào quân ta không trùng trùng điệp điệp.

Thế rồi lệnh vượt sông Trăng biên giới cho D1 cũng đến. Lệnh của trung đoàn là D1 phải nhổ đồn Cái Xơ bên sông Tân Thành, mở thông đường cho cả trung đoàn tiến sâu vào vùng bốn. Lâm tập trung tiểu đội, triển khai ba dạng mật mã cho anh em, nói ai cũng phải chép ra giấy học cho thật thuộc, đến lúc có lệnh hành quân thì phải đốt đi, giữ bí mật tuyệt đối cho mật mã, không để rơi vào tay địch. Sau mấy lần kiểm tra, thấy ai cũng thuộc mật mã lòng lòng như cháo chảy, Lâm yên tâm giao tiểu đội cho A phó Nguyễn Văn Mỹ, rồi đến lán của tiểu đoàn trưởng Hai Mai báo cáo tình hình phân bổ các máy xuống các đại đội. Ở đấy Lâm thấy anh Hai Mai đang tiếp chính trị viên tiểu đoàn Trần Minh Thái. Cả hai đều đang chăm chú cúi xuống tấm bản đồ của pháo binh Sài Gòn. Anh Thái gật đầu chào Lâm rồi nói. Các cậu ai cũng thuộc mật mã rồi chứ. Nói với anh em, không ai được bép xép lộ ra chuyện trung đoàn sắp chuyển quân đấy, gián điệp đầy ra đấy, mắt chúng tinh như mắt mèo, mũi chúng thính như mũi chó, tai tinh như tai ngỗng, mình hở ra cái gì chúng cũng biết. Cậu báo cáo nhanh rồi về cho anh em ăn cơm. Bốn giờ ta vượt sông. Thế nhé. Cứ thế mà làm nhé. À, mà tớ có gói rubi đỏ cho anh em thông tin vô tuyến điện này. Cậu cầm lấy rồi về ngay cho kịp. Nhớ là cấm tuyệt đối không ai được hút thuốc trên đường hành quân đấy.

Lâm không ngờ là ngoài bến sông lại có rất nhiều xuồng ba lá, đóng bằng ba miếng ván thao lao ghép lại. Chiếc nào cũng mới toanh, màu nâu đỏ mới cáo đẹp óng lên. Trên mỗi chiếc xuồng đều có một người lính cầm dầm ngồi chờ sẵn. Đó là xuồng hậu cần trung đoàn chuẩn bị để chở D1 vượt sông. Nhiều lắm. Xuồng và người nhiều lắm, nhưng bến sông vẫn im ắng chứ không ồn ào như hôm D1 tập bơi xuồng. Lâm thấy Hoành đang lúi húi chất cả khẩu cối 82 xuống xuồng, anh ta cùng hai người đồng đội lặng lẽ xuống chiếc xuồng ấy. Nhìn thấy Lâm anh ta chỉ háy mắt một cái rồi ngồi xuống mũi xuồng, cầm dầm đẩy xuồng tách bến. Chỉ có bốn người lính mà chiếc xuồng khẳm đừ. Dám họ phải đem theo hơn chục quả đạn chứ không ít. Như vậy thì cả người vác bệ cối, người vác nòng cối cũng phải quảy trong bồng mỗi người một qủa đạn, chứ người vác đạn không thể gánh trên vai tám quả đạn cối được. Ai cũng phải đeo bồng. Lại còn dao găm và lựu đạn nữa. Và ai mà biết trong túi bồng của họ có món tư trang nào không. Lính tráng là chúa nhặt nhạnh đủ thứ hầm bà lằng. Hành quân mang vác è cổ mà còn sổ nhật ký, đèn dầu vỏ đạn M79, đồ bấm móng tay, cục xà bông cô Ba, có anh còn cụ bị mang theo cả cái kéo, cái tông đơ Liên Xô. Khốn nạn nhất là cơm nước chẳng ra gì mà anh nào cũng thích ăn bằng chén sứ, đũa mun. Chẳng ai biết họ tậu cái thứ khốn nạn ấy bằng cách nào, nhưng hễ là lính 207 thì anh nào cũng thích dùng chén sứ, nó là đẳng cấp chiến trường của lính cựu. Cứ anh nào mặc quần áo may bằng vải pô lin phăng màu cứt ngựa, anh ấy đích thị là lính cựu. Quần áo Tô châu đẹp vậy, tốt vậy, nhưng đó là thứ của lính tân binh ngoài Bắc mới vào Nam. Lính cựu họ đeo bên hông đèn pin cổ ngoéo, lựu đạn lốc míc, dao găm inox, lắm anh còn đeo đồng hồ tự động orien; có anh còn có trong bồng cả cái đài bán dẫn hai pin hiệu Natinal của Nhật. Họ rà đài giỏi lắm. Một là nghe tin tức Đài phát thanh giải phóng của ta. Hai là nghe Đài ta Đài địch hát cải lương. Lính Miền Bắc mà khoái hát vọng cổ. Ư ử ư ử, cứ được nghỉ ngơi là họ hát rống lên đến tức cười. “Lan ơi Điệp từ khi xa chân trời góc biển không đêm nào là không nhớ tới em”. Có lần Lâm đã nghe C trưởng Nguyễn Bá Thiệu nói với Sơn. Mày hát cải lương như cứt mà cứ rống lên. Làm ơn hát Quan họ giùm tao đi. Yêu nhau cỡi áo cho nhau. Đã yêu thì phải thế chứ. Nói là nói thế, chứ chính anh Thiệu còn nằm co người nghe lén “tướng cướp Bạch Hải Đường”, lính D1 thằng nào không biết; các thủ trưởng cũng biết nhưng có ai nói gì đâu. Nghe thì nghe nhưng lập trường thì lập trường. Ai đánh trận cũng lì đòn, cũng giỏi như anh Thiệu thì D1 đã là tiểu đoàn anh hùng lâu rồi.

Lâm buộc túm cái bồng của mình gọn lại, bỏ vào bồng của Trịnh Minh Phương. Thật ra trong bồng của anh chỉ có một bộ đồ vải ka ki Tô Châu, một cuốn sổ tay, một cây kèn harmonica; còn các thứ như bình toong, đèn pin cổ ngoéo, dao găm thì anh vẫn đeo bên mình, cả cái bát sắt tráng men màu xanh của Trung Quốc nữa. Phương đảm nhận máy phụ nên anh phải đeo bồng cho cả hai người, cùng hai lố pin khối xơ cua. Cả hai người ai cũng phải đeo chéo AK trước ngực, vậy mà Phương còn phải vác theo năm cái cọc tre to như cổ tay, còn Lâm thì phải vác bó đan. Thế nhưng họ cũng phải mỗi người một trái cối 82 hay DKZ82 như cánh bộ binh của D1, lính thông tin vô tuyến điện, chẳng những được ưu tiên thêm phụ cấp, mà còn được ưu tiên cả mang vác lúc hành quân. Họ người trước người sau đi chui chúi trong đội hình hàng dọc của K bộ. Các đại đội hành quân ở đâu đó rất gần mà chẳng hề nghe thấy động tỉnh gì. Cứ đi được khoảng năm cây số thì có lệnh ngồi nghỉ. Lính ta ai nấy cũng thở ra cả đằng mồm đằng mũi. Trong một lần nghỉ chân như thế, Lâm thấy anh Thái chính trị viên cùng một người du kích mặc bộ đồ màu đen đi tới. Nhìn thấy Lâm anh ta hỏi nhỏ mà nghe rất rõ. Phải chú trong tổ chuẩn chiến không? Con Đèo nhà tôi thế nào rồi? Dù chẳng hề biết chút tin tức gì về Đèo, Lâm vẫn trả lời như thật. Ổn rồi. Cô ấy khoẻ chú ơi. Người du kích xoay quá nói với anh Thái. Con nhỏ còn ít tuổi, khoẻ cấp kì chứ gì. Phải nó không phải nằm viện, nó cũng đi dẫn đường đêm nay đấy. Nó thuộc đất địa vùng này như lòng bàn tay. Khi anh Thái và người du kích đã đi hút vào bóng đêm, Lâm nói với Phương. Làm chỉ huy sướng thế, đeo K54 nhẹ tênh, chẳng bù cho tụi mình khổ như trâu như ngựa. Phương vừa uể oải ngáp vừa nói. Đeo súng ngắn mà sướng gì, nó đập dập mông, bể xương bánh chè ấy chứ. Em đeo có mỗi quả lựu đạn chày, thế mà muốn chết đây, nó cứ đập liên tục vào đùi mình, đau muốn chết, vậy mà bọn hoả lực, đứa nào cũng hai ba quả. Lính hoả lực là lính trâu bò mà anh. Em mà có con trai, em chỉ cho đi lính trinh sát thôi, vừa oai vừa sướng thân, đếch phải đeo vác nặng bao giờ. Chết mà biết mình sẽ chết thì việc đếch gì phải sợ. Em là em chỉ sợ chết bất ngờ thôi, mình chẳng kịp chuẩn bị gì cả. Chẳng hạn anh đang chăm chú truyền lệnh qua tổ hợp mà bị đạn trúng tim ngã lăn ra, anh có sợ không. Chết bất thình lình như thế, chẳng đứa nào kịp nhớ đường mà lần về quê đâu. Quê em đẹp lắm nhé. Làng xóm bóng tre xanh trùm mát rượi. Dòng sông uốn lượn như dải lụa. Mùa gặt lúa, chim cu ngói bay về gáy cúc cù khắp nơi. Các bà kỉu kịt gánh lúa về làng. Con gái thắt đáy lưng ong đẩy xe cút kít. Có dịp anh anh về quê em chơi nhé. Mẹ em đồ xôi đậu xanh. Chị em làm bánh trôi nước. Chúng mình ngồi giữa sân đình kể chuyện chiến trường. Lũ con gái cứ là há hốc mồm ra cả một lượt. Mà dạo ấy, khẩu đội 14 ly 8 của chị em trực chiến trên đồi, bắn hạ cả phản lực F105D đấy. Du kích xã mà còn oách hơn cả giải phóng quân chúng mình. Cái máy bay nhìn hùng hổ trên trời thế, chứ trúng một viên đạn là toé khói, bốc cháy như bó đuốc. Hồi nhỏ có lần em vác đòn xóc, chạy theo chị cả đi đuổi bắt phi công đấy. Thằng Mỹ cao to ngồi dưới gốc cây, thấy mình đến là giơ cả hai tay xin hàng, mặt cắt không ra hột máu, mất hết cả thể diện người lính. Thà em chết khi đang đánh nhau, chứ em sợ chết khi đang tập trung dịch mật mã lắm. Chết bất thình lình sợ lắm anh ạ. Lâm vỗ vai Phương. Thôi đi ông tướng ơi, chết bất thình lình thì biết quái gì mà sợ. Mẹ khỉ, mình vừa lội qua lung cỏ nghễ thì phải, ngứa cứ là ran lên này. Tiếng Phương thù thì. Không phải cỏ nghễ đâu, mình mặc nguyên cả quần áo lội qua lung mà. Muỗi đấy. Muỗi cỏ Đồng Tháp Mười đấy. Thứ muỗi rằn này, vòi nó đâm xuyên qua cả vải ka ki Tô Châu, có điều nó không độc như muỗi a nô phen, không gây sốt rét đâu. Nó chỉ đốt đau nhoi nhói rồi ngứa ran lên thôi, mình mà gải quá, loét thịt bị ghẻ đấy. Anh còn thuốc muỗi không, hết thì lấy của em mà xức. Xức cả lên mặt. Cả hai bàn tay nữa. Mẹ kiếp, lại gặp lung nước nữa rồi. Xứ sở gì mà lắm lung bàu thế không biết. Thảo nào em học địa lý, thấy nói vùng rốn Đồng Tháp Mười sâu hơn mặt biển tới bốn mét. Ai nói Tháp Mười đẹp nhất hoa sen nhỉ. Mình đi mấy tiếng đồng hồ rồi mà có thấy hoa sen hoa súng gì đâu. Toàn là đồng khô cỏ cháy với bàu nước cạn và lung cỏ nghễ. Lâm nói. Thì cái lung nước này, khi trời mưa xuống sẽ biến thành đầm sen đấy. Tiếng Phương lại rù rì. Thảo nào em thấy thằng Mỹ nó viết trong sổ.

anh bơi xuồng hành quân giữa đầm sen
bông trắng bông vàng xôn xao như chào hỏi
hương toả dịu dàng cứ như mời gọi
mai anh về quê em ăn Tết anh ơi

Cái thằng nó phét thế đấy. Có sen quái đâu mà cũng tưởng tượng ra. Lại còn mời anh về quê em ăn Tết. Lâm nghe vậy thì phì cười. Thằng Mỹ nó là nhà thơ mà. Nhà thơ thì phải biết tưởng tượng, biết mơ mộng chứ. Mày không thấy Trần Đăng Khoa nó viết lúa cũng “hí hóp thở trên sân” à. Cái gì mà không thở. Đến đất dưới chân mình nó cũng thở đấy. Tao thấy thằng Mỹ nó viết “đất thở gió vào màn đêm thổn thức” là nó viết đúng đấy. Tao với mày còn phải thở nữa là đất đá. Mai này mày về Côn Sơn mà nghe núi nó thở. Hơi thở núi ban đêm lạ lắm. Huyền bí như hơi thở đàn bà đang yêu. Ái chà chà. Tự nhiên Lâm thấy mình cũng bắt đầu mơ mộng rồi. Anh nào đã biết đàn bà đang yêu họ thở như thế nào cơ chứ. Chắc là họ thở từng hơi ngắn và nóng bỏng. Chỉ buồn mới thở dài sườn sượt được thôi. Đúng lúc ấy thì có lệnh của tiểu đoàn, tất cả vượt qua lung nước rồi nghỉ ba chục phút, chuẩn bị triển khai lực lượng theo phương án tác chiến. Hoành ở đâu vác khệ nệ nòng cối 82 đặt xuống gần chỗ ngồi của Lâm. Nói nhỏ như ném từng tiếng vào màn đêm đen kịt. Tớ thề với ông trời đang sậm sịt sắp mưa, đêm nay tớ bắn hết cơ số đạn vào đồn, vác nặng bỏ mẹ. Muốn mưa thì mưa đi. Cứ doạ nhau mãi. Tớ thì tớ sẽ mưa đạn vào đồn. Bố tiên sư nó đồn Cái Xơ. Không biết bố mày là Hoành súng cối 207 à.

Tất cả quân trang quân dụng được bỏ lại nơi tập kết. Toàn tiểu đoàn áp sát đồn Cái Xơ lúc gần mười một giờ đêm. Lâm và Phương dùng xẻng cán gấp moi được cái công sự chữ I, đủ nằm cho cả hai người, sâu chỉ khoảng hơn gang tay, bởi đất ở đây cứng như đá. Lệnh của tiểu đoàn là tất cả các mũi đều phải khẩn trương cũng cố công sự, B thông tin phải bảo đảm thông suốt đường dây liên lạc xuống tất cả các đại đội, các máy PRC25 chuẩn bị làm việc khi ta nổ súng. Khi công sự đã khoét đủ sâu để không lộ đầu, tay Liêm liên lạc của Hai Mai lại lênh cho Lâm phải chuyển công sự lên gần trăm mét, sát với hầm thủ trưởng. Lúc này mây mưa u ám trên trời đã tan biến, đã thấy các vì sao hiện ra nhấp nháy, Lâm thấy khát cháy cổ, khát tới cuồng lên, ấy vậy mà Trịnh Minh Phương lại nói. Chết em rồi anh ơi. Em giấu anh để lại miếng mật mã, em để quên ở chỗ công sự ban nãy rồi anh ơi. Vậy là Lâm phải giao máy lại cho Phương, cầm AK trườn về chỗ cũ tìm miếng giấy chép mật mã nhỏ như bàn tay của Phương. Cái thằng lạ thật, trời tối thế, chữ thì nhỏ như kiến đọc thế nào được mà cũng moi ra chứ. Xung quanh đồn, bò vài mét đã có nguy cơ quờ tay trúng mìn banh xác, nói gì tới việc phải bò xa gần trăm mét. Cơn khát bởi vậy càng bùng lên cháy cổ, người bứt rứt đến phát điên phát cuồng. Khi trườn trở về được chỗ Phương nằm ôm cái máy, thấy chưa tới nửa đêm, khát chịu không nổi nên Lâm đánh liều. Ông đưa tớ thêm cái bi đông của ông, tớ phải bò xuống sông lấy nước, không thì chết khát. Đeo choàng khẩu tiểu liên sau lưng, Lâm bò dần về phía bờ sông, Lâm nhìn xuống thấy hai vệt sáng xanh lè chạy dài hai bên bờ. Đang phân vân không biết có nên bò xuống không thì Sơn B40 C2 bò tới. Anh ta nói vào tai Lâm. Đừng sợ. Cá chốt chết trắng vì sặc phèn bốc lân tinh đấy, dù sao cũng có chút nước mà uống, còn hơn phải chết khô vì khát. Cả hai cùng trượt bờ dốc thẳng đứng xuống sông, đất lở cũng tuôn xuống rào rào. Lính canh nghe động liền bắn xối đạn đại liên đuôi cá xuống sông. Rồi thì cả đạn M79 dây bắn nổ đoành đoành chát chúa ở phía bờ bên kia. Cả Lâm và Sơn thọc vội bi đông xuống nước, rồi chạy vội về dốc sông leo lên, nhưng Lâm leo sắp lên thì lại bị đất lở kéo tụt xuống. Lâm vừa loay hoay tìm cách leo lên vừa nghĩ, bây giờ mà có lệnh nổ súng, một mình thằng Phương, không biết nó xoay xở làm sao với cái máy. Đúng lúc ấy thì Lâm nghe tiếng Sơn nói ngay trên đầu. Ông nắm cái bi đông tôi kéo lên cho. Nhanh lên không có chết phơi xác đấy. Như cái máy, Lâm nắm lấy cái bi đông vừa được Sơn thòng xuống. Nhờ vậy mà anh thoát được lên bờ. Rất may là bọn lính canh chỉ bắn hoảng sang bờ bên kia, chứ chúng không hề biết đã bị vây kín phía bờ bên này. Phương án của ta là mở đường cho lính đồn tháo chạy qua sông, chứ không dồn ép buộc chúng phải kháng cự đến cùng. Bởi vậy chúng chỉ bắn hoảng khoảng mười phút rồi im hẳn. Hai cái đèn pha thay nhau quét lia ra ngoài, nhưng đó cũng là sự đánh lừa niềm tin, chứ bọn lính đồn Cái Xơ có thấy được đếch gì. Chỉ Lâm là thấy Phương nằm nghiêng dưới đất, vừa tu một ngụm nước đã nhổ phắt xuống đất, vừa đưa bàn tay phải bụm miệng vừa chửi. Nước đéo gì mà tanh và chát thế không biết.

Thế rồi pháo lệnh cũng vọt lên trời sáng rực. Từ ba phía, hoả lực của K bộ, của các C nổ chát chúa. Bám sát bên cạnh tiểu đoàn trưởng, Lâm nhìn thấy rỗ mồn một thế quỳ bắn của Đạt và Sơn C2. Họ được lệnh dùng B40 và B41 thổi hàng rào bùng nhùng, mở đường cho bộ binh xông lên chiếm đồn. Khẩu DKZ82 của K bộ cũng đang thổi lửa mở hàng rào. Sau lưng đã nghe tiếng đề ba cối 82 của ta câu đạn vào đồn địch. Những tiếng hú hú vun vút trên đầu. Những tiếng nổ đoàng đoàng vang lên đanh thép. Cả đồn Cái Xơ phút chốc chìm trong biển lửa. Tiếng Hai Mai hét vào tai Lâm. “Lệnh cho hoả lực ngừng bắn. C2 xông lên chiếm đồn. C1 C3 dùng trung liên bắn thị uy”. Các máy của đại đội đều trả lời. “Nghe rõ. Nghe rõ”. Hai Mai vung khẩu K54 lên trời hét gầm lên. “Xu… ung Phong! Xung Pho…oong!”. Cả Phương và Lâm đều xách tiểu liên chạy theo Hai Mai. Xung quanh chỉ nghe tiếng súng của ta điểm nhịp từng tràng đanh thép, không hề nghe tiếng đối phương bắn trả. Khi vượt qua bờ tường bằng đất đã bị đạn DKB của ta phá sập. Lâm nghe tiếng của ai đó nói rất to. Xong rồi anh Hai. Tuy nhiên tiếng lựu đạn của ta vẫn nổ chát chúa trong các miệng hầm, các góc nhà. Bộ binh C2 tràn ngập trong đồn. Bốn cái chòi gác bị đạn DKZ82 bắn gục xuống. Sân đồn lổn nhổn đất đá, hê hủng lỗ cối 82. Một vài tên lính mặt mày bê bết máu bị trói giật cánh khuỷu ngồi ủ rũ xung quanh cột cờ, mặt thằng nào cũng non choẹt, bấm ra sữa. Anh em C2 lôi từ trong các dãy nhà đổ sập ra mấy cái xác lính Sài Gòn bị chết, chất thành một đống giữa sân. Anh Thiệu chỉ lá cờ ba sọc đang treo trên cột cờ, ném con dao găm cho một thằng lính đang ngồi co ro dúm dó, hét vào tai nó. Leo. Cắt cờ cho tao. Lâm thấy thằng lính run rẫy định cắt sợi dây kéo cờ, nhưng nó đã rụt tay lại, bởi tiếng anh Thiệu quát to như sấm gầm. “Leo lên!”. Thằng lính lồm cồm leo lên cột, dùng dao cắt sợi dây. Lúc lá cờ ba sọc rơi chụp xuống đầu nó, cũng là lúc anh Thiệu chỉa AK nổ đòm một tiếng. Lâm nhìn thằng lính cùng lá cờ rơi từ trên cao xuống, thấy nhẫn tâm, thấy ác, nhưng rồi nhớ tới mấy cái xác chị em bị lột trần truồng, bị xẻo vú, bị cắm chai bia vào cửa mình ở Pô Cheng Tông, anh cố nuốt cục tức nơi yết hầu xuống, móc túi lấy ra một điếu ru bi đỏ anh Thái vừa cho, lóng ngóng tới ba lần mới bật được lửa zippo châm điếu thuốc. Tiếng Hai Mai nói khàn khàn. Không sợ bị kỉ luật chính sách tù binh há mầy. Phí cả viên đạn. Lệnh anh em thu dọn chớp nhoáng rồi rút ra ngoài. Pháo tụi nó sắp giáng xuống đấy.


 phần 4: PHÁC THẢO "LÍNH 207"

PHÁC THẢO "LÍNH 207" phần 4

Gần 8 giờ tối hôm ấy, Lâm được được đeo máy theo thủ trưởng Trần Minh Thái ra bờ sông bàn giao tử sĩ. Mười mấy cái xác anh em hoả lực đã được móc từ dưới các công sự đem lên bờ. Họ được gói lại bằng từng tấm ni lông Trung Quốc màu xanh rêu, Khoảng ba chục chị dân công đang ngồi gục đầu chờ anh Thái nhận mặt và ký bàn giao tử sĩ. Lâm nhìn thấy cùng đi với anh Thái còn có anh Nghĩa chính trị viên trưởng C1, anh Thiệu đại đội trưởng C2, anh Bách chính trị viên trưởng C3, cùng anh Thanh B trưởng thông tin, anh Đức B trưởng hoả lực, anh Tuấn B phó trinh sát, cùng anh Tý trợ lý dân vận, anh Thơ trợ lý tài vụ, anh Thử quân y sĩ tiểu đoàn. Họ lặng lẽ cúi xuống bấm đèn pin soi mặt từng xác chết. Cả chục người gương mặt âm u dõi theo ánh đèn pin đùng đục vì được quấn bằng khăn mùi soa của anh Thái. Mỗi người đều có một cuốn sổ tay ghi chép nhỏ có thể bỏ lọt vào túi áo. Tất cả đều ghi chép, nhưng ghi tỉ mỉ nhất vẫn là anh Tý trợ lý dân vận. Đi theo họ còn có hai chị dân công luông luống khoảng ba mươi tuổi. Họ đi theo để ký nhận từng cái xác tử sĩ. Trời tối nhờ nhờ. Những đám mây ướt sũng sà xuống rất thấp. Không gian u tịch lạnh lẻo, toát lên mùi chết chóc rợn người. Một vài con chim lợn vỗ cánh phành phạch bay ngang trên đầu, kêu éc éc lạnh cả xương sống. Nhiều tấm thân nát nhừ, máu thịt đất cát trộn lại thành một cục. Nhiều gương mặt rách toác, hộp sọ vỡ toác ra, chân tay bị đứt lìa. Nếu xác nào không nhận ra được tên người thì chỉ ghi là liệt sĩ D1 E207. Từng xác một đều được anh em mở ra, bấm đèn pin soi nhìn rồi cẩn thận ghi lại, rồi cẩn thận gói lại. Thời gian nặng nề, bò trườn qua từng xác người nhơn nhớt mùi tử khí một cách nặng nhọc và uể oải. Không gian lanh lẻo lại càng lạnh lẻo, bởi những đám mây cứ sà xuống thấp, phả hơi nước lạnh toát xuống mặt đất.. Cả một dãy dài mười mấy xác tử sĩ đã được liệm lại bằng những tấm ni lông quân đội còn mới tinh, đặt thành một dãy dài trên bờ sông. Các nữ dân công bắt đầu ôm từng bọc ni lông đen kịn màu bóng đêm xuống xuồng. Tất cả họ đều im lặng làm rất nhẹ tay. Họ làm nhẹ tay đến nỗi Lâm chỉ thấy những chiếc xuồng lay động, không hề nghe thấy tiếng bước chân, tiếng be xuồng va chạm vào nhau. Bỗng nhiên có tiếng con gái khóc thút thít nấc lên. Rồi sau đó, cả gần ba chục cô dân công đều khóc nấc nghẹn ngào. Những bọc ni lông nhẹ quá. Không ai có thể tin được là xác người. Xác các tử sĩ E207 vừa hy sinh chiều nay bởi lựu đạn và xích xe tăng M48, xích xe lội nước M113. Lâm cũng thấy cay cay nơi sống mũi. Nước mắt anh tự nhiên chảy ra giàn giụa, nóng bỏng trên gương mặt còn lem luốc thuốc đạn. Anh biết. Đây mới đúng là cái chết bất ngờ của các bạn đồng đội. Sức trẻ đôi mươi làm sao chống được cơn buồn ngủ đến mụ mị suốt cả ba ngày trời. Quân địch dùng bom pháo nả xuống dội xuống để trấn áp. Đạn trọng liên nổ toác toác đùng đùng từng tràng để uy hiếp. Ba ngày. Suốt cả ba ngày chúng bắn phá điên cuồng khiến anh em buồn ngủ. Họ hầu hết đều là lính sinh viên mới từ ngoài Bắc vào tăng cường cho 207. Họ đã làm gì có kinh nghiệm trận mạc. Họ đã làm gì biết cách chống đỡ những cơn buồn ngủ, mi mắt lúc nào cũng sụp xuống nặng như đeo đá. Rồi thì cơm vắt và gạo rang không thể tiếp tế vì bom đạn rền rền trên mặt đất. Đói và khát và kiệt sức. Và căng thẳng chờ đợi suốt ba ngày trời. Chiều nay lính trung đoàn 10 đã vượt sông, có cả xe tăng xe lội nước đi theo. Tất cả bọn chúng trườn dưới các làn đạn 12ly7 bắn quét ràn rạt trên đầu. Chúng dùng lựu đạn tấn công bất ngờ từng công sự của ta. Chúng dùng xích sắt xe tăng M48 day đi nghiền lại trên từng công sự của ta. Cái chết lạnh lùng đến bất ngờ khi anh em đang ngủ gục dưới công sự. Có cái dài chưa tới hai mét, rộng chưa tới một mét mà có tới bốn xác người. Một khẩu tiểu liên bị gãy. Một cái túi cứu thương bị đè bẹp. Cả mũi hoả lực bị chết bất ngờ như vậy, Tân Thành lại xa vời như vậy, làm sao anh em nhớ đường để tìm về quê xứ. Những câu chuyện tình dừng lại. Những buổi học trên giảng đường dừng lại. Mặt đất rắn đanh vàng khè màu ghỉ sắt mùa khô Tân Thành sẽ ôm lấy họ trong từng hơi thở nghẹn ngào của Đất. Cái chết bất ngờ quá. Mười mấy xác người sẽ không ai biết được là mình đã chết.

Chiều ngày thứ năm D1 nhận được lệnh hành quân về trở lại ấp Tà Thum bên kia sông Trăng biên giới. Họ được sáu ngày để chỉnh quân, để sắp xếp lại đội hình.

Oanh vác một khẩu DKZ57 vừa lấy được trong đồn chạy ngang qua mặt Lâm. Bên cạnh Oanh là Nguyễn Kiệm vác trên vai một thùng đạn DKZ57, mặt tươi hơn hớn. Lúc đi ngang qua mặt Lâm và Hai Mai, Kiệm nói với tiểu đoàn trưởng. Thủ trưởng cho C2 chúng em đổi khẩu cối 60 nhé, khẩu DKZ này bắn xe tăng được đấy. Nhìn gương mặt lem luốc thuốc súng của Kiệm, Lâm nhận ra ngay Kiệm là người lính cao chỉ mét sáu, từng phàn nàn bộ quân phục số bốn rộng thùng thình như váy áo đàn bà, liền gật đầu cười. Kiệm nói. Các anh vào cái nhà tôn bị đổ sụp kia kìa, vớ lấy mấy thứ nhu yếu phẩm của tụi nó, nhanh lên kẻo pháo nó bắn vào huỷ diệt đấy. Lúc này không biết du kích Tân Thành từ đâu đã cập vào bờ mấy chiếc xuồng có gắn máy coler4 dưới bến sông, họ nhào vào đồn thu gom vũ khí đạn dược rất nhanh, rồi lặng lẽ chất xuống xuồng, giật máy chạy rất nhanh. Hai Mai nói với Lâm, điện cho C1, C3 triển khai lực lượng chuẩn bị đánh lính trung đoàn 10 phản xung phong. Quay sang Nguyễn Ba Thiệu, Hai Mai nói rất to. Lệnh cho lính của ông ra ngoài triển khai theo kế hoạch lẹ lên, nấn ná lâu ở đây là chết đấy. Nói xong ông phẩy tay cho Lâm và Phương chạy theo ra ngoài. Bấy giờ đằng đông đã ửng hồng, đã nhìn thấy bóng lính C2 đang rút chạy ra ngoài. Xung quanh cột cờ chẳng còn thấy bóng dáng một tên lính tù binh nào, ngoài cái xác tên lính chết trùm đầu bởi lá cờ ba sọc. Lúc Lâm và Phương vừa vượt qua chỗ bức tường đất bị DKB bắn sập, thì nghe tiếng đạn pháo từ chi khu Hồng Ngự xe xé trên đầu bay tới. Tiếng Hai Mai nói rất to. Cứ theo cửa mở mà chạy, không ai được dừng lại. Nó huỷ diệt đồn đấy. Liền đó là tiếng pháo bầy nổ chát chúa sau lưng. Cả đồn Cái Xơ nhanh chóng chìm trong biển lửa. May mắn là quân ta ai cũng đã kịp thoát ra ngoài. Tính ra cả thời gian diệt đồn và thu chiến lợi phẩm chỉ diễn ra không đầy bốn mươi phút. Như vậy D1 đã nổ súng lấy đồn Cái Xơ trong vòng chỉ 15 phút. Bọn địch phản pháo như vậy là chậm.

Lần này cọc tre và miếng đan mới được sử dụng. Sau đợt dội pháo gần ba chục phút vào đồn Cái Xơ, hầu như suốt cả buổi sáng đến tận ba giờ chiều, trận địa Tân Thành hoàn toàn yên tĩnh. Lâm và Phương kịp thời cũng cố công sự hình chữ Z sát bên công sự của Hai Mai. Lâm thấy Hai Mai và anh Thái ngồi trên miệng hầm mở bản đồ quân sự bàn bạc gì đấy, rồi Liêm liên lạc xách AK chạy qua B hoả lực, rồi cả B hoả lực vận động về bên trái đến bến sông, cách đồn Cái Xơ khoảng tám trăm mét. Tiểu đoàn thành lập tổ hoả lực chốt chặn xe tăng sư 7 ở đấy, có tăng cường thêm ba khẩu B41 của ba đại đội. Anh Chính y tá của tổ quân y tiểu đoàn cũng được tăng cường xuống trận địa ấy. Lệnh từ trung đoàn, D1 phải giữ vững trận địa, không để địch tràn qua sông, lực lượng của R đã chuyển động. Từ đêm mai, các lực lượng của 207 bắt đầu hành tiến, D1 chính thức trở thành bộ phận chốt chặn chiến lược tại Tân Thành. Công lệnh số 1 được ban hành.

Khoảng ba giờ chiều trên bầu trời Tân Thành xuất hiện một chiếc OV10 bay đến, nhưng chiếc máy bay này cũng chỉ lượn vè vè mấy vòng rồi biến mất. Hơn bốn giờ chiều thì hậu cần tiểu đoàn chuyển cơm nắm đến cho đơn vị. Mỗi người được một nắm cơm. Hai người mới được một bi đông nước. Phương nói với Lâm. Yên lặng thế này là sắp có đánh lớn đấy. Em nhìn nét mặt căng thẳng của anh Hai Mai với anh Thái thì em biết. Họ còn tỏ ra căng thẳng hơn cả trước hôm đánh đồn. Em đã thấy một cái hố bom rồi. Nước ở đấy hơi chua một chút nhưng vẫn còn uống được. Mẹ nó. Cả Đồng Tháp mùa khô ở đâu cũng toàn nước phèn là nước phèn. Thứ nước đéo gì nhìn trong leo lẻo mà chát xít. Khoảng gần nửa đêm có chiếc đầm già ù ù bay đến thả đèn dù rồi bắt đầu xối đạn trọng liên ằng ặc xuống bờ sông. Nó lượn đi lượn lại vãi đạn dai như trâu đái. Đường dây hữu tuyến điện đã thông suốt giữa giữa tiểu đoàn với các đại đội. Vô tuyến điện được lệnh tắt máy hoàn toàn. Cả trận địa im lặng một cách đáng sợ. Hừng đông lại thấy một chiếc OV10 xuất hiện, bay quần đảo xoi mói trên bầu trời tới mấy vòng. Tám giờ sáng thì một đàn trực thăng bốn chiếc chui chúi bay tới. Chúng thi nhau xả đạn xối xả vào trận địa của ta, cùng lúc với việc thả đạn cối 60 nổ đùng đùng khắp nơi. Cái khoản thả đạn cối thẳng đứng này xuống trận địa rất độc, bởi nó có thể rơi trúng miệng công sự bất cứ lúc nào. Đã vậy mỗi chiếc trực thăng còn phóng xuống tới cả bốn quả rốc két. Hết tốp bốn chiếc trực thăng thứ nhất đến tốp thứ hai, thứ ba. Cả ba tốp thay nhau quần đảo và bắn phá dữ dội, nhưng sao tiểu đoàn vẫn im lìm không được nổ súng bắn trả. Sau tốp trực thăng thứ ba thì bọn phản lực F4 kéo tới dội bom. Tiếng phản lực rít xé gió, nghe sởn cả gai óc. Từng quả bom đen chùi chủi lao xuống. Tiếng khoan xoáy nghe ù ù rợn người. Tiếng bom nổ ầm ầm khắp nơi. Khói lửa bụi đất bay mù mịt. Miễng bom quăng vèo vèo. Không gian khét lẹt, sực nức mùi thuốc bom tới ngạt thở. Dứt trận bom tới trận pháo. Pháo phát quang nổ đoành đoành dữ dội. Pháo khoan nổ ùng ùng rung chuyển cả mặt đất. Đã mấy lần Lâm nhìn thấy các anh lính hữu tuyến điện phải băng mình trong lửa đạn đi nối đường dây. Cả D1 chỉ có máy PRC25 của Lâm hoạt động để nhận chỉ thị của trung đoàn. Lệnh của trên là phải giữ nguyên trận địa, sẵn sàng chờ đánh bộ binh sư 7 Sài Gòn phản xung phong. Đã mấy lần Lâm nghe Hai Mai chửi thề. Đù má. Cứ bắt ông trần lưng chịu bom pháo thế này à. Đánh thì đánh mẹ đi. Ông nóng giái rồi nè. Thế nhưng cả ngày vẫn chỉ toàn bom pháo là bom pháo. Trinh sát trung đoàn cho biết, sư đoàn 7 chưa động binh. Tới bốn giờ chiều thì tiếng súng hoàn toàn ngưng hẳn. Trận địa phòng ngự của D1 không còn bị dội bom dội pháo. Các C của tiểu đoàn vẫn không thiệt hại gì lớn. Thế nhưng gần nửa đêm đầm già lại đến thả đèn dù, lại tiếp tục đái đạn 12 ly 7 xuống trận địa của ta. Sang ngày thứ hai mọi chuyện lại diễn ra như ngày thứ nhất. Hữu tuyến điện từ các C báo về, bộ đội đã phải nhai gạo rang, có anh khát quá đã phải uống cả nước đái, quân số đã bắt đầu có thương vong, ở nơi này nơi khác nhiều công sự đã bị bom pháo làm tróc nóc hầm.

Sang ngày thứ ba tình hình vẫn như vậy. Nghĩa là mới mờ sáng trực thăng đối phương đã kéo tới bắn phá. Tiếp đó là F4 dội bom. Tiếp đó là pháo 105 ly bắn như dội bão. Trinh sát vô tuyến điện của trung đoàn cho biết, trung đoàn 10 sư 7 đã kéo đến bên kia sông Tân Thành. Cùng đi với bọn trung đoàn 10 là chiến đoàn 56 thiết giáp. Rất có thể hôm nay địch sẽ vượt sông. Lâm lại thấy Hai Mai và anh Thái ngồi hội ý trên miệng hầm, gương mặt của cả hai đanh sắt lại, cứ như thể trận đánh sắp sửa bắt đầu. Dứt trận đạn pháo ầm ầm vào buổi trưa, tiếng thiết giáp bên kia sông rú lên dữ dội. Lệnh của Hai Mai. Tất cả máy PRC25 lên sóng trực chiến. Các C sẵn sàng đánh trả khi địch vượt sông. Thế nhưng M48 và M113 chỉ áp sát bờ sông, nhả trọng liên xối xả sang bờ sông của ta. Tiếng 12ly7 nổ sằng sặc, nghe toác toác đùng đùng, toác toác đùng đùng. Chúng bắn liên hồi từng tràng từng tràng sang trận địa của ta, nhưng thiết giáp vẫn án binh bất động. Đến tận hai giờ chiều, thiết giáp chiến đoàn 56 vẫn bắn khống chế quyết liệt, bộ binh sư bảy vẫn không xung phong. Lâm và Phương ngồi dưới công sự, cả hai đều buồn ngủ tới rục người. Đã hơn hai ngày hầu như họ đã không được ngũ, đã liên tục chịu đựng sự căng thẳng của đạn hỏa lực đối phương bắn như vãi trấu. Hơi thuốc súng nồng nặc xộc vào mũi họ, thấm vào tim gan phèo phổi của họ, vắt kiệt sức của họ, khiến họ buồn ngủ tới bả người. Đã nhiều lần Lâm nhìn thấy Phương ngồi ôm tiểu liên, tựa lưng vào vách hầm ngủ gà ngủ gật. Đã mấy lần cả Lâm và Phương phải thay nhau rặn đái vào bàn tay thoa nước tiểu lên mặt. Lính vô tuyến điện khi căng thẳng trực chiến 24/24 còn phải chia sẻ cả nước đái cho nhau, bởi các cơn buồn ngủ và khát nước khiến nước tiểu của họ đặc quánh lại; nhiều khi rặn mãi mới són ra được vài giọt như nước đái thằn lằn. Chúng bắn hoài, bắn mãi, bắn dai dẳng tới tận ba giờ rưởi chiều mới dứt. Sợ lỡ ngủ thiếp đi không nghe được tiếng Hai Mai gọi, Lâm bẻ cần số rốp rốp nghe trộm đài địch. Bất chợt nghe một giọng Bắc nói rất to trong tổ hợp. “Ó Đen gọi Đại Bàng. Ó Đen gọi Đại Bàng. Đã vượt qua con trăn xanh, chà xát mấy ụ mối, thu được mấy cành cũi mục. Nghe rõ trả lời”. Ngoái đầu lại, Lâm thấy Trịnh Minh Phương đang há mồm ngồi ôm khẩu tiểu liên, đôi mắt tỏ ra đầy hoảng hốt. Lại một tiếng Bắc khác dội lên. “Phượng Hoàng gọi Ó Đen. Ó Đen đậu lại không bay nữa. Nghe rõ trả lời”. Đối phương nói tiếng lóng trực tiếp với nhau rõ mồn một. Tiếng Phương cất lên nhẹ như gió thoảng. “Không khéo xe tăng của chúng đã vượt sông chỗ ta bố trí hoả lực đấy, báo cáo chỉ huy ngay đi anh, vỡ trận thì nguy lắm”. Lâm chần chừ một lúc rồi đưa tổ hợp cho Phương, ôm tiểu liên lăn xuống công sự của Hai Mai. “Báo cáo , báo cáo anh Hai. Hình như… hình như…”. Lâm còn đang chần chừ, bởi báo cáo sự thật, đồng nghĩa với việc anh đã nghe trộm thông tin của địch, điều cấm kị tuyệt đối với lính thông tin vô tuyến điện cấp chiến thuật. Nhưng không báo cáo thì không được. Mũi yếu nhất của tiểu đoàn là mũi K bộ đã bị hở sườn, nếu tụi lính trung đoàn 10 có thiết giáp hỗ trợ mò đến thì sao đây. B hoả lực, B trinh sát, B thông tin đã cho gần hết người xuống phối hợp với các đại đội, còn lại toàn là các trợ lý của tiểu đoàn, đánh đấm bằng sổ sách nhiều hơn là bằng súng ống. Rối bời trong đầu Lâm đâm ra cuống lên.“Báo cáo thủ trưởng, hình như xe tăng của chúng vượt sông rồi, hình như mũi hoả lực đã…”. Vừa lúc đó có anh lính mặt mày bê bết máu tuột xuống hầm, vừa thở hổn hển vừa nói. Báo cáo thủ trưởng, mũi chống tăng bị diệt rồi”. Hai Mai đang cầm tổ hợp điện thoại hữu tuyến, ném ngay vào vách hầm, nói như hét. “Liêm đâu. Nói anh Biên dẫn C2 đánh thẳng vào mũi chống tăng”. Ngoái sang tôi anh nói. “Lệnh C1 C3 giữ vững trận địa. Gọi trung đoàn cho bắn cối 120 chi viện. Nói bắn thẳng vào đồn Cái Xơ cho tao!”. Rồi anh ngoi đầu lên khỏi miệng hầm gọi với sang B trinh sát. “Cho thằng Cường qua đi với tao. Tất cả lẹ lên!”. Lượm tổ hợp điện thoại hữu tuyến nằm dưới đất lên. Anh nói. “Thái hả. Biểu C3 với C2 giữ vững trận địa. Tôi đến với tổ chống tăng đây. Rồi anh nói với tôi. Tụi mầy chuẩn bị theo tao. Đụ má, tao chơi sát ván chiến đoàn 56 luôn. Chiến hoả lực đâu, điều ngay cho tao hai khẩu B41. Khi Lâm khoát tay gọi Phương ôm máy RPC25 trườn qua, anh nhanh chóng thay ăng ten bảy đốt bằng ăng ten lá lúa, rồi đeo máy lên lưng, nằm xoài dưới đất báo cáo, vô tuyến điện sẵn sàng. Lúc Tấn Cường cầm tiểu liên trườn tới, cũng là lúc phía trận địa chống tăng đã vang rền tiếng súng. Điều đó chứng tỏ C2 đã xung trận. Tiếng B40 nổ oàng oàng liên tục. Tiếng trung liên gầm lên từng tràng. Tiếng AK điểm nhịp giòn dã hai viên một. Vừa nhác thấy dáng Đạt và một người nữa vác hai khẩu B41 xuất hiện. Hai Mai đã nhảy vọt lên miệng hầm, nhưng vẫn kịp nói vọng xuống. Cậu nằm đó chờ quân y đến băng cho. Tiện thể cậu trực điện thoại chỉ huy cho tớ. Cứ nói anh em bằng mọi giá phải giữ vững trận địa. Giữ vững trận địa.

Lâm và Phương cùng anh em K bộ đang nối đuôi chạy sau lưng Hai Mai thì thấy Liêm từ hướng bờ sông chạy ngược đến. Báo cáo thủ trưởng, anh Biên hy sinh rồi, quân ta chiếm lại trận địa rồi, địch đang tháo chạy qua sông. Đạt vác khẩu B41 chạy qua mặt Lâm, nét mặt đằng đằng sát khí. Tấn Cường cầm tiểu liên chạy qua. Mấy người nữa cũng chạy vụt qua mặt Lâm. Tất cả đều chạy như bay về phía bờ sông. Đạt ngồi quỳ chân trên bờ sông, đang ngắm bắn vào chiếc M113. Nó là chiếc xe cuối cùng của chiến đoàn 56 đang tìm cách leo lên bờ. Hai bờ sông chỗ này xoài ra thoai thoải, chứ không dốc đứng như chỗ Sơn và Lâm liều mạng mò xuống lấy nước. Tiếng B41 của Đạt nổ chát chúa. Thấy rõ chiếc M113 bị đứt xích, nghiêng hẳn về phía phải. Thêm mấy tiếng nổ B41. Đạn trọng liên của tụi trung đoàn 10 từ phía bên kia sông bắn xối sang ào ào như một trận mưa lớn. Chiếc M113 xịt khói đen cuồn cuộn. Lửa trong xe cháy bùng lên. Cùng lúc ấy, có tiếng ùng ùng vang to trong đồn Cái Xơ. Mặt đất rung rung như sắp sập. Đó là đạn cối 120 của 207 đã câu vào đồn. Tiếng Hai Mai vang lên. Gọi 120 bắn vào toạ độ X. Hai tiếng nổ ùng ùng đầy uy lực lại vang lên như sấm. Mọi tiếng súng trên toàn bộ trận địa Tân Thành vụt tắt. Lâm đặt máy xuống đất, thay ăng ten lá lúa bằng ăng ten bảy đốt. Trinh sát điện tử trung đoàn 207 cho biết. Trung đoàn 10 sư 7 đã rút quân. Thế đấy. Ra là chủ lực Sài Gòn cũng sợ chạm trán với chủ lực của ta. Tiểu đoàn 1 của E207 đã bẻ gãy cuộc phản xung phong của trung đoàn 10 sư 7.

 phần 5: PHÁC THẢO "LÍNH 207"

Về tới Tà Thum, Lâm được chuyển sang phụ trách quân lực tiểu đoàn, trọ gần nhà trọ của D trưởng Hai Mai. Mới đầu anh cũng thấy nhớ, thấy tiếc A thông tin vô tuyến điện của mình. Nào là anh chàng Trịnh Minh Phương đẹp trai. Nào là anh chàng Nguyễn Văn Mỹ hay mơ mộng. Rồi cậu Thức hay thủ thỉ thù thì như con gái, lâu lâu lại dúi cho Lâm một dúm thuốc lá sợi hiệu Ara, cùng mấy miếng giấy quyến rất mịn, rất đẹp. Cả anh chàng Tuấn nấu ăn rất giỏi, chuyên đảm nhận việc nấu ăn cho cả tiểu đội, anh ta lúc nào cũng mua được thức ăn với giá rẻ không ngờ; bữa cơm lúc nào cũng đàng hoàng ba món kho, xào và canh hay rau luộc. Anh ta hay nói với mọi người. Ăn không no thì sức đâu mà hành quân, sức đâu mà chiến đấu. Muốn lính khoẻ thì ăn uống phải đầy đủ, thịt cá càng nhiều càng tốt. Chẳng biết bằng cách nào mà khi anh ta xuống bếp, bao giờ chủ nhà cũng cho xài mắm muối dầu mỡ tiêu tỏi thoải mái. Lại còn anh Minh tán gái như sáo. Chỉ với mấy câu tiếng Miên ba rọi, mà anh ta đủ sức khiến các nàng phục lăn sát đất. Lâm nhớ trong ngôi nhà A thông tin vô tuyến ở nhờ, có một cô gái rất đẹp, tên là Mần Chi Cô Nơ. Lâm không biết đó là tên thật hay tên Minh đặt cho cô ấy. Lâm chỉ biết đó là một cô gái đẹp. Tuyệt đẹp. Nước da trắng hồng. Dáng người thanh thao. Đôi mắt to đen mịn mượt như nhung. Đôi môi chín mọng, đỏ như son. Đôi cánh tay cong vun vút, cổ tay no tròn, ngón tay mềm như sợi bún. Cô là mẫu người cổ cao ba ngấn, mắt nhìn có đuôi; ai lỡ chạm vào cũng chết quay lăn lóc. Một lần Lâm và Minh thấy trên vách nhà có con tắc kè kêu tắc cồ tắc cồ trầm đục, hai người liền tìm cách bắt sống. Mần Chi Cô Nơ đưa cho Minh cây sào nhỏ. Minh khều trúng con tắc kè mấy lần, khiến cái đuôi bị đứt rơi xuống sàn nhà, giẫy lên giẫy xuống. “Cái đuôi. Cái đuôi. Chộp cái đuôi con tắc kè đi. Quý lắm đấy!”. Minh nói to làm Mần Chi Cô Nơ đỏ cả mặt. Thấy cô gái Miên túm lấy cái váy đẹp của mình chạy đi mất. Minh mới sực nhớ nói với Lâm. Chết thật. Cuống lên tớ quên hết cả. Cà đui là cái ấy của con gái. Tớ kêu “cái đuôi” nghe có khác gì “cà đui” chứ. Ôi trời, tiếc “cái đuôi” Khơ Me quá. Tiếc cái “cà đui” Khơ Me quá. Chiều nay anh Lâm nhớ xin lỗi cô ấy nhé. Cứ giải thích cho cô ấy hiểu “cái đuôi” là “cái đuôi”, khác hẳn cái “cà đui” của con gái. Hai người bỏ qua, không đuổi bắt con tắc kè nữa. May cho họ là họ quên mất, người Khơ Me thường nuôi tắc kè trong nhà để bắt muỗi. Tiếng lẻ trời nắng. Tiếng chẳn trời mưa. Hôm Lâm chia tay tiểu đội, anh em có làm buổi tiệc chia tay nho nhỏ. Hai mẹ con Mần Chi Cô Nơ cũng tham dự. Họ mời mấy anh lính trẻ Việt Nam hát múa lâm thôn. Xa Ri Ka Keo. Xa Ri Ka Keo. Tiết tấu bay rạo rực. Giai điệu bay bềnh bồng. Những cánh tay ki chuôn Khơ Me đưa bát ngát. Những cánh tay rùm đo Việt Nam đưa bát ngát. Những bước chân cất lên cao rạo rực. Những bước chân hạ thấp xuống nồng ấm. Từng bát thốt nốt chua được chuyền cho nhau. Từng gương mặt sáng bừng lên tình đoàn kết quân dân. Xa Ri Ka Keo nữa. Xa Ri Ka Keo mãi. Chiến tranh lùi ra xa tận nơi nào. Niềm hạnh phúc vui sống ùa ập kéo về. Điệu lâm thôn cứ bùng lên, bùng lên. Ngọn lửa mỡ bò trong cái tô sứ cứ bùng lên thơm phức. Đêm Tà Thum cứ rộng ra, rộng ra vô cùng vô tận. Mẹ con cô vũ nữ cung đình chạy nạn Lon Non dạt về đây. Những người lính Việt Nam từ bên kia sông Trăng biên giới tụ về đây. Đêm Tà Thum rộng lớn huyền ảo, bỗng trở nên ấm áp gần gụi biết chừng nào. Xa Ri Ka Keo ơi. Sa Rây Mần Chi Cô Nơ ơi. Tình Việt Nam – Khơ Me đẹp biết ngần nào.

Một bộ phận E207 đã đồn trú sâu đâu đó trong vùng bốn chiến thuật. Một bộ phận tiếp nhận của 207 vẫn ở Tà Nu. Đại đội đặc công của E đang chờ bổ sung quân số. Một lần Lâm gặp lại Thông. Hai người đưa nhau vào nhà dân xin nước uống. Ở đấy có mấy anh lính hậu cần đang chơi bài tiến lên. Họ chơi quẹt lọ nồi. Mặt mũi anh nào anh nấy cũng đen nhẻm các vệt ngang vệt dọc, chỉ có nụ cười là sáng ngời lên niềm vui của lính. Lính 207 hầu như anh nào cũng biết chơi bài tiến lên. Họ chơi để giết thời gian. Chơi để quên đi khổ đau và chết chóc. Chơi để cười với nhau mà chờ các trận đánh. Họ chẳng cần hơn thua. Họ chỉ cần được vui trong thực tại. Cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Dẫm phải một quả mìn trong đêm điều nghiên đồn địch. Một viên đạn AR15 xuyên qua tim lúc xung phong. Một quả bom rơi trúng nắp hầm. Thậm chí chỉ một quả pháo đỉ bắn vu vơ đâu đó…Cái chết đến rất khó, nhưng cái chết cũng đến rất dễ dàng. Không ai biết trước mình sẽ chết như thế nào. Đã là lính trận thì cận kề cái chết là đương nhiên. Lâm nhớ tư thế nằm nghiêng trên mặt đất sông Tân Thành của anh Biên. Bàn tay phải của anh vẫn cầm khẩu tiểu liên đưa về phía trước. Một cái chân xoãi ra như đang trụ lại. Một cái chân đưa lên như đang chạy xốc tới. Miệng anh há rộng như đang hô bộ đội xung phong. Chỉ có đôi mắt là mở to như ngạc nhiên hỏi vào bầu trời, vì sao cả mũi hoả lực lại bị xe tăng giết chết. Những cái xác nát bươm. Xương thịt đất cát trộn vào nhau. Những cái xác không còn nhìn rõ mặt người. Những cái xác chỉ ghi trên nấm mộ dòng chữ, liệt sĩ trung đoàn 207. Chiến tranh rồi sẽ đi qua. Đất nước rồi sẽ thanh bình. Nhưng lịch sử không bao giờ quên được nỗi đau này. Những người lính có tên có tuổi, có quê quán, có trường lớp, có ước mơ trở về sau ngày nước nhà hoà bình độc lập, nhưng họ đã nằm xuống trong đau đớn, bởi không ai có thể nhận ra thân xác của từng người, để có thể phân biệt họ là ai. Đơn giản, họ chỉ là những liệt sĩ bất tử của trung đoàn 207.

Thông hỏi thăm Lâm về Nguyễn Bá Thiệu. Anh kể về đợt tấn công vào Pô Cheng Tông, khi cả hai người còn lá lính đặc công. Đường phố hê hủng vết đạn pháo đạn cối. Các dãy phố tan hoang xơ xác. Một đứa bé chưa đầy năm trần truồng ngọ ngoạy trên tấm thân bị lột truồng của người mẹ. Cháu bé khóc khản tiếng vì tìm mãi không thấy hai bầu ngực mẹ. Hai mãng thịt nậu xỉn trên ngực người mẹ mới qua tuổi hai mươi. Thiệu quỳ xuống, dùng cả hai bàn tay bồng cháu bé lên, nhưng đầu cháu bé tự nhiên rũ xuống. Cháu bé chưa đầy tuổi tôi đã chết trên hai bàn tay người lính. Thiệu cúi đầu đặt xác cháu bé lên xác người mẹ. Anh không thể tìm được một miếng vải đậy lên người hai mẹ con bất hạnh. Anh đứng dậy, giương khẩu tiểu liên lên trời xiết một tràng đạn. Trưa Pô Cheng Tông chói chang. Nắng vàng run rẩy trên tấm thân người mẹ trẻ bị cắt nát nhừ bởi những nhát dao oan nghiệt. Cả Thiệu và Thông đều khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào theo họ vào trận đánh với tất cả lòng căm hận ngút trời. Họ băng qua từng khu đất trống. Họ băng qua từng lớp lớp hàng rào dây thép gai. Họ đốt cháy cả sân bay Pô Cheng Tông bằng rực lửa căm thù. Thông nói với Lâm, sau trận đó anh và Nguyễn Bá Thiệu hay chơi trò gọi hồn. Linh hồn những người lính giáng xuống, kể về gia đình, kể về quê hương. Rồi linh hồn của họ bay lên, thăng thoát vào cõi vô cùng vô tận. Một tờ giấy với hai ô chữ ghi THĂNG GIÁNG, với hàng loạt chữ cái và một dãy chữ số. Đó là nơi các linh hồn giáng xuống và bay lên, kể cho họ nghe về người thân ruột thịt, về cô bạn học cùng làng; hoặc họ im lặng không nói gì vì có những nỗi đau cần giấu kín. Chỉ cần có một cái nắp chai hay một cái bật lửa đặt xuống trang giấy. Chỉ cần một lời chú thật tâm, thăm thẳm tận đáy lòng một nỗi niềm đau đáu. Vậy là có thể cầu hồn. Làm sống dậy những hồi ức xa xưa. Làm sống dậy những bức tranh về ngày mai khát vọng. Vấn đề là phải hiểu nhau. Thật hiểu nhau mới có thể gọi hồn lên được.

Trên đường về Lâm ghé vào sóc Tà Thum thăm ông lão đánh xe bò đã cho Lâm và Mỹ đi nhờ. Mấy bụi tre xơ xác vì lính 207 xin nhiều quá. Ông lão sốt rét nằm liệt giường. Trán ông nóng rực nhưng người cứ run lên lẩy bẩy. Cô gái mồ côi mẹ nấu nước xông cho cha đã mấy lần nhưng con bệnh vẫn không buông tha. Xem qua bệnh tình Lâm biết là ông lão bị sốt rét ác tính đang hành hạ. Anh lấy viên nivaquine để cô gái cho cha uống, còn anh chạy đi gọi anh Thử y sĩ tiểu đoàn. Anh Thử tiêm cho ông lão mấy mũi thuốc gì đấy. Sau một lúc co giật, ông lão chìm vào giấc ngủ; toàn thân được ủ kín bằng mấy lớp chăn chiên, trán được đắp bằng miếng khăn lạnh. Qua chiều hôm sau ông lão ngồi dậy được. Đến lúc D1 chuẩn bị hành quân chuyển vùng thì ông lão đi được. Ông chống gậy cùng cô con gái đến tìm Lâm. Ông cầm tay Lâm, vừa lắc lắc vừa nói đi nói lại. O cun rùm đo Việt Nam! O cun rùm đo Việt Nam! Lâm không thể biết được rằng, đó là lời cám ơn cuối cùng của ông lão Khơ Me dành cho anh, bởi anh đã cùng tiểu đoàn đi sâu vào vùng bốn chiến thuật Sài Gòn, và không có dịp trở về vùng đất thân thương ấy nữa.


BÌNH LUẬN  

 
0 #6 Tìm mộ bố là Liệt sĩNguyễn Văn Tú 09-08-2018 17:08
bố cháu là liệt sĩ Nguyễn Văn Mồng, sinh năm 1939; quê quán: Xã Trung Nguyên, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc.

+ Theo Giấy báo tử: Liệt sĩ Nguyễn Văn Mồng,sinh năm 1939; Tái ngũ: 7/1968; cấp bậc Thượng sĩ, chức vụ Tiếu đội trưởng, đơn vị: KB, hy sinh ngày 09/3/1970 tại Mặt trận phía Nam.

+ Trích lục tại Cục Chính sách Quân khu 9:
LS Nguyễn Văn Mồng, sinh năm 1937, cấp bậc: Thượng sĩ, Chức vụ:Tiểu đội phó;
Tái ngũ: 7/1968,
Đơn vị : Quân khu 8;
Hy sinh 09/3/1970; Mai táng tại Nghĩa trang Sông Trăn; hy sinh trong trường hợp Bị phục kích.

+ Trích lục tại Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Phúc: LS Nguyễn Văn Mồng, sinh năm 1937,
cấp bậc: Thượng sĩ,
Chức vụ:Tiểu đội phó;
Tái ngũ: 7/1968,
Đơn vị : T2, E88, F7, B2;
Hy sinh 09/3/1970; hy sinh trong trường hợp Bị phục kích.
Bài Phác thảo Trung đoàn 207 có nhắc địa danh Sông Trăng.
Cháu xin hỏi địa danh Sông Trăng ở đâu thuộc đại bàn xã nào, huyện, tỉnh nào; có phải bố cháu có ỏ trung đoàn này hay trung đoàn 24 khi bắt đầu ddqww[cj thành lập vì bố cháu có hy sinh tại mặt trận này được an táng tại Nghĩa trang Sông Trăng theo danh sách của Quân khu 9 cho biết.
Mong các chú báo tin cho: Nguyễn Văn Tú con của liệt sĩ xã Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc;
SĐT: 0987194268. Emai: cháu xin cảm ơn.
Trích dẫn
 
 
0 #5 PHÁC THẢO LÍNH TRUNG ĐOÀN 207Bebe 02-08-2018 13:49
Thank you for some other excellent article. The place else
could anyone get that kind of information in such an ideal manner of writing?
I've a presentation subsequent week, and I am at the look
for such info.

Also visit my web site; Bạt nhún lò xo
Trích dẫn
 
 
0 #4 PHÁC THẢO LÍNH TRUNG ĐOÀN 207Elden 23-06-2018 10:46
What's up colleagues, how is the whole thing, and what you
want to say on the topic of this article, in my view its genuinely
remarkable in favor of me.

Here is my homepage :: android tv box
Trích dẫn
 
 
0 #3 PHÁC THẢO LÍNH TRUNG ĐOÀN 207Casey 05-06-2018 04:05
Pretty nice post. I just stumbled upon your weblog and wanted to mention that I
have really loved surfing around your weblog posts. After all I'll be subscribing in your feed and I'm hoping you write again very soon!

My blog; Big dick pictures
Trích dẫn
 
 
0 #2 PHÁC THẢO LÍNH TRUNG ĐOÀN 207Gerald 03-06-2018 20:42
I relish, result in I discovered exactly what I used to be having a look for.

You've ended my 4 day long hunt! God Bless you man. Have a nice day.
Bye

Feel free to surf to my web site; android tv box on youtube
Trích dẫn
 
 
0 #1 Trung đoàn 207 thân yêuVũ Trung Kiên 16-04-2018 09:25
Hay - nhiều cảm xúc ....Nhớ về một thời gian khổ ác liệt nhưng rất hào hùng !
Trích dẫn
 

Viết Bình Luận

Security code
Chọn từ khác

chi em phu nu, game, game, tin game, kgamevn, tin game thu, suc khoe tong hop, gamek, tin game hay, tin game, game viet nam, game, game, game thu viet, chi em phu nu, game, game hay, tin moi, suc khoe doi song, game thoi trang hay 2014, choi game dua xe hay, ban sung hay, tin tuc, xem phim, game mien phi, game hay nhat