gototopgototop

huy_hieu_doan_tncs_hcm WELLCOME TO TRUNG ĐOÀN E207
Back BÀI VIẾT Bài viết về E207 Phóng sự - ký sự Hồi ký chiến trường - Bài 39

Hồi ký chiến trường - Bài 39

 

HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG – BÀI 39

VŨ TRUNG KIÊN CCB E207- E156


alt


Lính sư đoàn 339 hành quân chiến đấu (nguồn: lịch sử F339)


Ngày 24/1/1979, trung đoàn bộ lại được lệnh hành quân rời vị trí. 18h xuất phát mới 20h đã đến nơi quy định. Sở chỉ huy trung đoàn đóng quân phía nam đường số 5, các tiểu đoàn bộ binh tiếp tục giãn ra tạo thành một trận địa liên hoàn phòng thủ bảo vệ cho U Đông vừa mới được quân ta lấy lại từ tay quân Pôn Pốt cách đây ít ngày.

Vị trí trung đoàn bộ đóng quân là một khu đất đồi tương đối bằng phẳng. Có lẽ đây là một tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp loại cây ngắn ngày mà đan xen rất nhiều loại cây, trong đó, chủ yếu là cây khoai mì và khoai lang. Nhà cửa thưa thớt theo kiểu lán trại lợp bằng lá. Bởi xác định đây là trận địa phòng thủ, nên bộ đội được yêu cầu đào công sự có nắp, nối với những dãy thông hào, vừa để tránh pháo cối địch, vừa để cho bộ đội cơ động khi có tác chiến xảy ra.

Trên thông báo tuyến đường số 2 từ PhnomPenh về Việt nam vẫn còn tắc nghẽn, việc đi lại rất hạn chế kể cả ban ngày cũng như ban đêm dù cho các đơn vị bạn đã  tổ chức chốt trên tuyến QL2, từ Nông Pênh đi Tà keo. Việc vận chuyển  của ta đều phải sử dụng bằng đường không. Mặc dù đường số 5 từ kom Pong Chi Năng về PhnomPenh đã được khai thông nhưng xe vận tải quân sự của ta đi lại rất ít, phần vì sợ bọn địch tổ chức phục kích theo những toán nhỏ lẻ, phần vì để tiết kiệm xăng dầu bây giờ đã rất cạn kiệt.

Lúc này là gần cuối tháng 1 dương lịch nên tính theo ngày âm chỉ còn mấy ngày nữa là đã bước sang năm mới, tết cổ truyền của dân tộc, làm tôi nhớ tới những ngày còn ở trên đất Việt Nam. Những ngày này, trên bàn thờ gia đình đã có rất nhiều bánh chưng, bánh tét. Và chỉ cách đây 1 năm, tại quê nhà má nấu nồi bánh to bằng chiếc nồi quân dụng, ngoài bánh tét còn có cả bánh ú, bánh ích, con cháu cứ tha hồ ăn thỏa thích…Giờ đây, trên đất bạn còn ám màu chết chóc, dù là người lính đã qua bao trận chiến, dạn dày bom đạn và mất mát, nỗi nhớ quê nhà vẫn dâng lên da diết!

Tại trung đoàn bộ trong đó có sở chỉ huy trung đoàn đến giờ phút này cũng chưa thấy gì gọi là Tết. Cán bộ chiến sỹ vẫn căng cái đầu cho những tình huống và phương án tác chiến. Quyết tâm bằng mọi giá phải làm giảm bớt thương vong cho bộ đội khi có chiến trận xảy ra (mà đa phần việc chủ động đều nghiêng về phía quân địch).

Sáng, trưa, chiều mỗi bữa cũng chỉ vài ba bát cơm ăn với cá khô mang từ tận đập nước về. Gạo cũng đã cạn dần nên các bếp đều độn thêm sắn, khoai lang của quân Pôn Pốt để lại.

Hàng ngày vẫn có những chuyến trực thăng vận tải quân sự (loại MI-8 do Liên Xô sản xuất) đáp xuống gần sở chỉ huy để tiếp tế đạn dược, lương thực, khi quay về Việt Nam thì chuyên chở thương binh, bệnh binh, liệt sỹ. Cũng nhờ có những chuyến bay như vậy nên bọn tôi thường gửi thư: “quá giang” về sân bay Trà Nóc, Cần Thơ hoặc sân bay Tân Sơn Nhất, mà tôi là người siêng viết thư về nhà nhất. Cũng bởi lúc này bà xã tôi đang mang bầu, cũng phải hơn 7 tháng rồi và ở tại hậu phương chắc gia đình tôi cũng đang mong ngóng tin tôi từng giờ, từng phút. Thương đứa con vẫn còn trong bụng mẹ, mà chẳng biết người cha như tôi có thể còn có ngày được trở về nhìn thấy mặt con, vậy là tôi biên thư sẵn, rất nhiều… và hầu  như chuyến bay nào về Việt Nam cũng có những cánh thư của tôi. Được cái là các đồng chí lái máy bay rất nhiệt tình và thật thông cảm cho những người lính đang chịu trận ngoài chiến trường, anh em phi công lái MI luôn vui vẻ khi nhận thư của chúng tôi và hứa sẽ đem về VN, dán thêm tem vào (vì lúc này ở CPC chưa có tem), rồi bỏ vào thùng thư dân sự với thời gian sớm nhất…

Việc vận chuyển thương binh của ta lúc này đều do không quân đảm nhiệm nên  tôi  bỗng nhớ lại lời kể của phi công Nguyễn Doãn Thuấn (chồng của Hiền Lương) :

-Do yêu cầu của chiến dịch, máy bay lại thiếu nên không ngày nào máy bay của em được nghỉ. Ngoài việc dùng hỏa lực để chi viện cho bộ binh nhiều lúc máy bay chiến đấu của trung đoàn không quân 916 còn đảm nhiệm việc vận chuyển thương binh nữa. Thường là sau khi bay tập kích quân Pôn Pốt, chúng em được lệnh bay qua các vị trí “đã có hợp đồng” nhận thương binh, rồi nhanh chóng đáp xuống.  Một lần máy bay của em chở 2 cô y tá tên là Bưởi, Lược (đều là người Hà Nội ) đến nhận thương binh từ một khu vực trong rừng (CPC), do thời gian chờ đợi chuyển thương quá dài, nhiều vết thương của thương binh đã có dòi, hàng trăm con dòi rớt ra sàn máy bay, bò lúc nhúc … Đặc biệt có một thương binh bị thương sọ não băng kín đầu, khi máy bay cất cánh, lúc lắc mạnh, đ/c thương binh đó chịu không nổi, vật vã vài lần rồi tắt thở ...Hai cô y tá khóc ầm lên... Em cố gắng gạt nước mắt để giữ tay lái đưa máy bay về tới hậu cứ …

Hôm nay đã là ngày mồng 1 tết,  ngóng  mãi mà chẳng thấy hậu cần cấp phát thêm gì. Trên thông báo ở tại sân bay Trà Nóc, Cần Thơ  quân khu đã chuẩn bị rất nhiều nhu yếu phẩm nhưng không tài nào chuyên chở sang chiến trường CPC được. Bởi các xe vận tải quân sự đến giờ phút này vẫn “nằm chơi xơi nước”. Máy bay vận tải quân sự của Không quân ta thì có hạn nên ưu tiên hàng đầu là chở đạn, kế đến là gạo. Chúng tôi hiểu rõ 2 thứ này là điều kiện sống còn của những người lính đang ngoài mặt trận. Những thứ khác chẳng nhằm nhò gì! Vậy là anh nuôi của ban chính trị sáng kiến: Lấy gạo rang lên…rồi cho ít đường thốt nốt vào ngào thành kẹo, chừa lại một ít rang thêm chút nữa cho nó hơi đen đổ nước sôi vào làm thành nước trà. Vậy là đã có đủ “kẹo, trà” đón tết. Anh Ba Nhu và một số đồng chí khác ghiền thuốc. Không có thuốc lá, đồng đội tôi bứt lá khoai mì khô. vò ra, quấn vào giấy hít vài hơi cho… có khói… nó đỡ ghiền…

Vậy là đầu năm 1979, trên chiến trường CPC, chúng tôi đón tết như thế  đấy… !

 

Sau cái Tết Nguyên đán của ta, tức cuối tháng 1 năm 1979, tình hình địch ở đây vẫn chưa có động tĩnh gì. Nhưng nhân dân CPC từ trong rừng cứ ùn ùn kéo về bởi họ đã biết rằng cứ theo bọn Pôn Pốt vào sâu trong rừng thì sẽ vô cùng khốn khổ. Hơn nữa, nhiều người họ đã thực tế gặp bộ đội Việt Nam không giống như bọn lính Pôn Pốt tuyên truyền, nhiều người đã tình nguyện quay vào trong rừng kêu gọi thân nhân trở lại quê cũ. Lúc này nhân dân vẫn còn có ít lương thực dự trữ nên ta chưa phải giúp họ. Chúng tôi hướng dẫn cho họ vào khai thác khoai mì, khoai lang để họ có thêm lương thực…

Ngày 2/2/1979, trung đoàn bộ về đóng quân tại 1 phum phía bắc đường số 5. Sở chỉ huy trung đoàn đóng quân trong một căn nhà xây rất to đã bỏ hoang từ lâu. Ngay chiều hôm đó, một số người dân biết tiếng Việt từ trong rừng trở về đã tập hợp khoảng 300 người dân CPC làm mít tinh chào mừng quân tình nguyện Việt Nam sang giúp nhân dân CPC. Để bảo vệ cho cuộc mít tinh, trung đoàn đã cử đại đội trinh sát và lực lượng vệ binh đến hỗ trợ. Cơ quan dân vận của ban chính trị cũng được phái đến. Và thật bất ngờ, với lòng căm thù quân Pôn Pốt và chính quyền Khơ me đỏ cao độ, nhân dân đã mật báo cho ta: có 7 tên lính ác ôn trà trộn vào trong đám đông dự mít tinh. Ngay lập tức, 7 tên ác ôn “được” lực lượng vệ binh và trinh sát “mời” về trung đoàn bộ, lực lượng vệ binh chịu trách nhiệm canh giữ.

8h sáng ngày hôm sau, tôi và bộ phận địch vận đã có mặt tại trung đội vệ binh để thẩm vấn 7 tên này… Khi đồng chí Xuân, trung đội trưởng vệ binh dẫn chúng tôi đến nơi giam giữ thì thấy bàn tay của 7 tên lính đều sưng vếu… Thì ra, do sợ những tên lính này bỏ trốn (nghe đồn chúng nó có bùa tàng hình) cánh lính vệ binh của ta đã trói chúng quá chặt… lại còn thêm một sợi dây quàng vào cổ “cho chắc ăn”, thế nên, 7 tên lính kia vẫn còn nguyên vẹn qua một đêm “được” ta giam giữ. ( Tôi vừa thương anh em vừa buồn cười về sự ngây thơ của những người lính trận còn quá trẻ!)

Chúng tôi phải trưng dụng 2 người dân CPC gốc Việt làm phiên dịch hỏi cung… Sau 3 tiếng đồng hồ làm việc, 7 tên kia đã thừa nhận: chúng là lính của Khét (tỉnh), chúng đã được lệnh đập đầu trên dưới 1000 người dân CPC (bình quân mỗi tên đã giết hơn 100 người vô tội). Chúng tôi thật kinh hoàng… Nhưng những người dân gốc Việt họ nói với chúng tôi: “Bọn nó thú nhận rất ít. Thực tế ra tội ác của 7 tên này còn lớn hơn rất nhiều…” 16h cùng ngày, chúng tôi quyết định cử vệ binh dẫn giải 7 tên ác ôn về ban địch vận sư đoàn. Tuy nhiên nỗi ám ảnh về sự tàn ác của chúng thì cứ day dứt mãi!

Mấy ngày tiếp theo, trung đoàn bộ vẫn đứng chân tại chỗ, nhân dân ở trong rừng vẫn tiếp tục trở về ngày càng đông, lúc này chính quyền bạn chưa hình thành nên tất cả công tác đón dân đều do quân tình nguyện Việt Nam đảm nhận…Thông qua những người biết tiếng Việt, cơ quân dân vận của ta hướng dẫn cho nhân dân CPC nhà của ai người ấy ở, ai không có nhà hoặc bị cháy thì ta sắp xếp họ ở chung với nhà hàng xóm, đùm bọc nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, chờ thành lập chính quyền sẽ có những chính sách cụ thể…

12h ngày 4/2/1979, chúng tôi được lệnh tiếp tục hành quân, chưa rõ đi đâu nhưng ban chính trị lại được 1 xe GMC đến chuyên chở rồi nhập vào đoàn xe của trung đoàn. Lúc này, mặt trời đã đứng bóng, nên sức nóng của nó thật ghê gớm. Không cần phải cảnh giác với lũ máy bay của địch như trong thời gian đánh Mỹ, nhưng tất cả những chiếc xe vận tải quân sự của ta đều rợp bóng cành lá ngụy trang. Chiếc xe chuyên chở chúng tôi cũng được anh em phục vụ “trồng” 4 cây to tướng ngay 4 góc xe chủ yếu lấy bóng  để tránh nắng.

Khoảng 15h, đoàn xe lại tiến vào rồi vượt qua thủ đô PhnomPenh ngược về đường số 4 rồi qua thị xã Kom Pong Sư Pư, hướng về biên giới thuộc 3 tỉnh Cam Pốt, Cô Koong, Tà Keo.

17h, đoàn xe đã chở chúng tôi tới đúng vị trí quy định. Sau đó chúng tôi tiếp tục hành quân bộ vào khu làng hoang vắng có rất nhiều Chùa mà chúng tôi cũng không rõ tên là gì.

19 giờ ngày 5/2/1979 toàn trung đoàn được xe quân sự từ Nông Pênh  vận chuyển về hướng Tà Keo, các đơn vị bộ binh đi trước, bộ phận hậu cần của trung đoàn đi sau cùng, cũng vì thế mới xảy ra chuyện…

Khi các đơn vị tác chiến đi hết, một xe hậu cần loại Vọt Tiến 4 bánh 2 cầu (của TQ viện trợ cho Pôn Pốt ta đã thu được và biên chế thuộc trung đoàn 156) đã bị địch phục kích bằng cách từ xa bắn B41, tuy không trúng đạn nhưng không hiểu lý do gì (có thể gọi là lạc tay lái như bây giờ hay nói) mà chiếc xe  lật ngang ngay trên mặt đường, không có hy sinh nhưng cũng khoảng  10 người bị thương mà chủ yếu là lính hậu cần các tiểu đoàn, cũng may bộ đội của một đơn vị bạn gần đó nghe súng nổ liền tổ chức vận động lên đánh trả vì thế  Khơ me đỏ cũng không dám tràn lên. Đến bây giờ chúng tôi cũng không hiểu bằng cách nào mà bộ đội của các đơn vị bằng sức người  đã dựng được chiếc xe đứng dậy và đi tiếp.

22h, trung đoàn bộ dừng chân tại một khu rừng thưa. Bộ đội thuộc trung đoàn bộ được lệnh khẩn trương đào công sự vì ở đây rất gần địch. Cùng lúc đó các đơn vị bộ binh bắt đầu tiềm nhập chiếm lĩnh trận địa. Khoảng 5h sáng ngày hôm sau các mũi tiến quân đi đầu đã phát hiện các chốt cảnh giới của địch, địch cũng không chống trả mà rút chạy ngay khi vừa chạm với quân ta. Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn 3 đánh mũi trực diện, tiểu đoàn 2 đánh mũi vu hồi bên cánh trái, tiểu đoàn 1 làm dự bị và bảo vệ phía sau trung đoàn bộ, các đơn vị trực thuộc như các C 21 trinh sát, các C hỏa lực khác nằm bên phải trung đoàn bộ chi viện hỏa lực cho các tiểu đoàn  bộ binh và sẵn sàng đánh địch ở mạn bên phải.

Đúng 6h sáng ngày 6/2/1979 khi trời vừa sáng rõ, sở chỉ huy trung đoàn hạ lệnh cho các tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm căn cứ thuộc địa phận Mo Núp và trận giao chiến diễn ra rất ác liệt ngay tại khu vực bờ đê mà thực chất là một con đập ngăn nước giữa hai quả đồi thấp tạo nên cái hồ khá lớn dài khoảng gần 1km. Địch ở trên cao bờ đập, ta ở phía dưới là các cánh đồng khô cằn khá trống trải, địch đã dùng hỏa lực chống trả quyết liệt, có thể nói có lúc là các đợt  pháo ĐKZ các cỡ, cối 60, 81 của ta và địch cùng khai hỏa tạo nên một hỗn hợp âm thanh chói tai, long óc… Khoảng 8h sáng tiểu đoàn 3 đã đánh bật địch ra khỏi bờ đập và vận động lên phía quả đồi thấp bên trái khoảng 700m, bàn giao lại bờ đập cho tiểu đoàn 1. Tiểu đoàn 2 đánh mũi vu hồi bên trái nhưng phát triển rất khó khăn. Khoảng 14 giờ địch tổ chức phản kích tại vị trí tiểu đoàn  3 và tiểu đoàn 2 , chúng đã cắt đứt đội hình giữa tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 1 mà thực chất là đã bao vây tiểu đoàn 3. Tiểu đoàn 1, lúc này do đồng chí Hoàng Anh làm tiểu đoàn trưởng đã tổ chức đột kích nhiều lần vẫn chưa chọc thủng hệ thống phòng ngự của địch để bắt tay với tiểu đoàn 3 và đồng chí Hoàng  Anh đã anh dũng hy sinh ngay tại bờ đập!

17 giờ cùng ngày, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 đã phối hợp nhịp nhàng dũng mãnh tấn công với những tay súng thiện chiến và quả cảm nhất buộc địch phải bỏ chạy nối liên lạc được với tiểu đoàn 3.

Cùng thời gian  trên sở chỉ huy trung đoàn đã hạ lệnh cho các đơn vị rút ra để vào thay thế cho trung đoàn 157 ( E9) tại khu vực Núi Đất. Tiểu đoàn 1 làm nhiệm vụ chốt chặn cho trung đoàn bộ và các đơn vị còn lại rút ra … Tiểu đoàn 3 rút ra sau cùng đã bị địch bu bám vây hãm và cuộc chiến đấu lại trở lên gay go, khốc liệt và cán bộ chiến sỹ chịu  nhiều thương vong … (do tiểu đoàn 3 ở mũi chính diện). Được lệnh của sở chi huy trung đoàn tiểu đoàn 1 đã liên tục vận động đánh phá vây để tiểu đoàn 3 rút ra. Và tiểu đoàn 1 lại lọt vào vòng vây của địch, địch dùng hỏa lực cối, ĐKZ, đại liên 12,7mm  bắn phá đội hình tiểu đoàn 1. Ban chỉ huy tiểu đoàn lệnh cho các đại đội bố trí đội hình thành vòng cung, đào công sự để đề phòng đêm tối địch tập kích, tuy bộ đội chưa kịp ăn uống gì sau một ngày chiến đấu, nhưng chiến trường là vậy.

Khoảng 21 giờ đích thân đồng chí trung đoàn trưởng cùng một số trinh sát trung đoàn vào bờ đập để đón tiểu đoàn 1 vì lúc này thực tế tiểu đoàn 1 cũng chưa xác định được hướng rút vì xung quanh quân địch khá dày đặc. Theo chân đ/c trung đoàn trưởng có trinh sát dẫn đường, tiểu đoàn 1 hành quân ra QL.  Một đơn vị bạn đang hành quân ngược chiều vào thay thế vị trí của trung đoàn 156 .

Sau khi đã được bổ sung thêm vũ khí đạn dược… lúc 0 giờ trung đoàn  lại được lệnh hành quân vào Núi Đất thay vị trí trung đoàn  157 về Tà Keo giải vây cho trung đoàn  158-F339. Hai hàng quân cứ lầm lũi xuyên đêm đi ngược chiều nhau nhưng không nói gì vì đói và mệt và vì họ đều hiểu ngày mai trận chiến sẽ ác liệt hơn cả hôm nay.

3 giờ sáng ngày 7/2, cơ quan trung đoàn bộ dừng chân tại 1 ngôi chùa đã  bỏ hoang bên cạnh con đường đất nối ra QL, đây cũng là nơi trung đoàn bộ trung đoàn 9/F339 đã đóng quân.

Ngôi chùa này (không biết tên) khuôn viên của nó rất rộng, khoảng 4-5ha và có rất nhiều hạng mục công trình. Phía trước mặt là một quả đồi thấp, các đơn vị hỏa lực của trung đoàn đóng quân trên đó, đơn vị trinh sát và công binh trung đoàn đóng quân bên tay phải của chân quả đồi thấp. Sau lưng chùa chính là một hồ nước trồng đầy sen. Mọi vật dụng ở đây đều bám đầy bụi và nước dưới hồ sen cũng trở nên hôi bẩn. Chúng tôi bắt gặp những con chuột cống lang to bằng con mèo, mình mẩy của nó rụng hết lông lòi ra một lớp da trắng hồng (giống như người bị bệnh bạch tạng). Lũ chuột này chúng chẳng sợ người, ngay cả ban ngày mà chúng cứ chạy lung tung để kiếm thức ăn. Nhiều con lăn cả xuống hồ nước chết nổi phình. Tuy vậy hồ nước này vừa làm nước tắm giặt, vừa làm nước ăn uống của trung đoàn bộ. Qua hồ nước này cách khoảng 50m là đại đội quân y trung đoàn, gần đó là đại đội thông tin, phía sau nữa là đại đôi pháo 105 của sư đoàn (đơn vị này đi cùng trung đoàn 9, ở lại phối thuộc với trung đoàn 8(156)), qua con đường đất là đại đội vận tải.

Phía trước quả đồi thấp, cách khoảng 1km là trận địa của TĐ 1 (mũi chính diện) sát ngay ngã tư đường đá, TĐ 2 bên tay phải của quả đồi thấp, cách TĐ 1 khoảng 1km, bên trái lộ đất là TĐ 3, trận địa nằm ven rừng thốt nốt kéo dài từ trung đoàn bộ đến TĐ 1 cách lộ đất khoảng 500m.

Từ đường số 4 vào vị trí đóng quân của chúng tôi là một con đường đất đỏ nhỏ bề ngang chỉ độ 3m nên việc vận chuyển bằng cơ giới của ta gặp  nhiều khó khăn và khi màn đêm buông xuống là bọn địch thường xuyên tổ chức phục kích, chúng gài mìn đủ các loại (mìn đạp nổ, mìn chống tăng…) do vậy về đêm đoạn đường này hoàn toàn bị cắt đứt. Khi ta có nhu cầu vận chuyển bằng cơ giới thì phải có lực lượng bộ binh đi bảo vệ 2 bên sườn và được công binh dò phá mìn rất chu đáo. Đến giai đoạn cuối của chiến dịch này địch vẫn còn ngăn chặn quyết liệt nên hầu như trung đoàn không thể liên lạc được với sư đoàn,  mọi sự tiếp tế đạn dược, lương thực và thuốc men hay vận chuyển thương binh, liệt sĩ đều không thể thực hiện.

Ngày 11/2 tôi được phân công xuống công tác tại ban chỉ huy tiểu đoàn 3 đóng cách sở chỉ huy trung đoàn khoảng 2km, được 2 đồng chí vệ binh đi hộ tống, chúng tôi vượt qua một con đường nhỏ dùng cho người đi bộ và xe 2 bánh, 2 bên đường cây cối mọc xanh rờn và có nhiều loại cây ăn quả như chuối, dừa…Khi còn cách ban chỉ huy tiểu đoàn khoảng 500m, thì chúng tôi phát hiện một đám khói ngay sau bụi chuối cách đường đi bộ khoảng 30m. Chúng tôi biết đây là khu vực an toàn và người dân ở khu vực này vẫn còn rất vắng vẻ nên 2 đồng chí vệ binh cùng tôi đã sục ngay vào… Thật bất ngờ, chúng tôi gặp 3 đồng chí lính trinh sát của tiểu đoàn đang nướng thịt bò. Một đống lửa được đốt lên từ những cành cây khô đang cháy ngùn ngụt, bên trên là những xiên thịt bò, miếng nào miếng nấy to bằng bàn tay, tỏa ra một mùi thơm phức. Hình như các chiến sỹ trinh sát này đã biết mặt tôi (bởi tôi đã nhiều lần xuống công tác tại đơn vị này). Một đồng chí, chắc là tổ trưởng, vừa tỏ ra lo âu và cố niềm nở mời chúng tôi cùng ăn thịt bò nướng. Riêng tôi thì suy nghĩ, chẳng biết cái đống thịt bò này xuất xứ từ đâu nhưng anh em chiến sỹ của ta đã quá vất vả…thiếu thốn đủ điều…nên….kệ….tôi vui vẻ nhận lời rồi cùng 2 đồng chí vệ binh ngồi xuống vây quanh đống thịt bò lúc này cũng đã vừa chín tới.

Ăn thịt bò nướng…chấm với ít muối…mà các đồng chí trinh sát đã chuẩn bị sẵn, bọn tôi được một bữa phủ phê…

Khi “tiệc” đã tàn, tôi mới dạm hỏi các đồng chí trinh sát.

- Thịt này kiếm ở đâu ra?

Một đồng chí ngập ngừng trả lời:

- Cách đây độ 200m thủ trưởng ạ! Con bò của lính Pôn Pốt bị chết do trúng đạn, bọn em phát hiện được và xẻo thịt…tôi theo chân các đồng chí trinh sát đến tận nơi…

Nhìn thật kỹ tôi nhận ra đây là con nghé chứ không phải là con bò, thảo nào thịt nó vừa mềm, vừa ngọt, nó nặng chắc chỉ hơn 1 trăm ký, bị 2 phát đạn trúng vào đầu, máu của nó vẫn còn tươi, chứng tỏ nó mới bị bắn cách đây chưa lâu. Tôi nhìn vào  mắt của các đồng chí trinh sát, gặp ánh mắt tôi, các đồng chí lại nhìn đi chỗ khác… Thấy tội quá, tôi nhỏ nhẹ nói với anh em: “Thôi nhé, đây là lần cuối nhé” và căn dặn anh em về báo cho đơn vị ra lấy thịt cho bộ đội ăn kẻo phí…

11h30, ngày 11/2/1979, tôi và 2 chiến sỹ vệ binh đã có mặt tại ban chỉ huy tiểu đoàn 3, đồng chí Miên chính trị viên tiểu đoàn và đồng chí Toán tiểu đoàn trưởng tiếp đón tôi rất niềm nở. Tôi quyết định ở lại ban chỉ huy tiểu đoàn 3 thêm 1 thời gian, nên bảo 2 đồng chí vệ binh quay trở về trung đoàn bộ và không quên căn dặn 2 đồng chí “kín miệng” cái vụ gặp 3 đồng chí trinh sát…

Đêm hôm đó, 11/2, tôi ngủ cùng hầm với BCH tiểu đoàn 3, 1 cái hầm lộ thiên sâu khoảng 80 phân ngay dưới gầm sàn nhà của một hộ dân bỏ hoang. Từ hầm ban chỉ huy tiểu đoàn có một ngách thông hào, nối liền với chiếc hầm của cụm đài 2w và máy thông tin hữu tuyến. Trận địa phòng thủ hình vòng cung có các đại đội bộ binh đang ở phía trước (hướng rừng sâu) là căn cứ của bọn Pôn Pốt, lực lượng của chúng lúc này vẫn còn rất mạnh, có thể bất cứ lúc nào mở đợt phản công nhằm chiếm lại những vùng đất đã được quân tình nguyện Việt nam giải phóng, trong đó có trung đoàn 156, sư 339. Vì vậy, lúc này hơn bao giờ hết bộ đội ta vẫn nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Và các trận đánh vô cùng khốc liệt và khó khăn nhất vẫn đang ở phía trước với thời gian 21 ngày đêm đã đi vào lịch sử trung đoàn 8( e156) ……………

(còn nữa…)

LSV (g/th)

BÌNH LUẬN  

 
0 #10 Chào cháu Phước ThạnhVũ Trung Kiên 24-05-2015 10:36
Bác rất vui khi cháu còn rất trẻ mà đã có những suy nghĩ rất chuẩn mực ! bác hy vọng rằng thế hệ hôm nay và mai sau sẽ có rất nhiều người giống cháu và chắc chắn Tổ Quốc ta sẽ mãi mãi trường tồn ,đất nước VN ta sẽ ngày càng tươi đẹp !
Chúc cháu cùng gia đình cháu luôn mạnh khỏe!
Trích dẫn
 
 
0 #9 vài lời tâm sự cùng bácphuocthanh 23-05-2015 14:01
Đọc xong bài viết của bác con như đang được hoà mình vào câu chuyện! chỉ có đọc, có tìm hiểu mới biết được hết những gian khổ những hy sinh và những mất mác mà các bác, chú, anh ngày trước đã phải chịu đựng như thế nào để chúng ta có ngày hôm nay! một lần nữa con cảm ơn bác đã viết nên câu chuyện này để con hiểu thêm về lịch sử của dân tộc mình!
Trích dẫn
 
 
+1 #8 chao bac tu kienphuocthanh 19-05-2015 19:00
Doc bai viet cua bac con thai cam dong ,chuc bac manh khoe ,
Trích dẫn
 
 
+1 #7 K G anh KiênVũ Hòang Tùng 19-05-2015 09:14
Cảm ơn anh Kiên đã cho bạn đọc và đồng đội hiểu được cuộc chiến ác liệt trên đất cpc ,rất tự hào vì chúng ta là những người lính bác Hồ . Nhân dịp kỷ niệm 125 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch những người lính năm xưa quyết ngẩng cao đầu hát mãi khúc quân hành !
Chúc gia đình anh Kiên khỏe,hạnh phúc !
Trích dẫn
 
 
+1 #6 Chào cháu Nguyễn Thị HuyềnVũ Trung Kiên 16-05-2015 19:50
Như chú Thông đã thông tin và theo chú được biết tất cả các liệt sỹ của trung đoàn 207 nằm căp sông Sở Thượng đều đã được địa phương di dời về nghĩa trang Tam Nông ( ở những ngôi mộ không tên và những ngôi mộ chỉ có đơn vị 207) Vậy chắc chắn bác cháu là một trong những ngôi mộ này ! có dịp cháu vào thắp nhang cho bác cháu và các liệt sỹ nhé !
Còn cháu muốn tìm hiểu truyền thống của trung đoàn 207 chú dã viết từ bài 1 đến bài 32 (thuộc trung đoàn 207) từ bài 32 trở về sau (thuộc trung đoàn 156) .Chúc cháu mạnh khỏe .
Trích dẫn
 
 
+2 #5 Đây rồi ạNguyễn Thị Huyền 16-05-2015 14:02
Cháu có Bác là liệt sĩ thuộc trung đoàn 207. Cháu rất muốn được tìm hiểu quá trình chiến đấu anh dũng của trung đoàn, và Đây rồi ạ, từ nay cháu sẽ theo dõi Hồi ký chiến trường ạ. Cháu vui quá đi.Cảm ơn chú Kiên đã viết HKCT ạ.
Trích dẫn
 
 
+1 #4 Cảm ơn.Võ Minh 16-05-2015 10:33
Chúc mừng anh Vũ Trung Kiên đã để lại cho mọi người một tác phẩm rất hay. Đọc anh càng hiểu thêm về một thời những người lính quân tình nguyện chúng ta đã trải qua bao vất vả, hy sinh xương máu chiến đấu với dội quân Pôn Pốt diệt chủng man rợ, giải phóng cho nhân dân Cămpuchia và bảo vệ sự bình yên bền vững lâu dài cho vùng biên của Tổ quốc mình.
Xin cảm ơn anh và những người lính tình nguyện yêu quý!
Trích dẫn
 
 
-1 #3 Chào cháu NhungVũ Trung Kiên 16-05-2015 09:43
Cảm ơn những lời chia sẻ của cháu ! Cho chú gửi lời thăm đoàn làm phim và mẹ cháu nhé ! Mẹ cháu uống thuốc của chú Thông gửi tặng chắc khỏe rồi nhỉ ! Khi nào bọn cháu đi công tác miền tây nhớ đến nhà chú chơi nhé ! Rất hân hạnh được đón tiếp các cháu !
Chú Vũ Trung Kiên
Trích dẫn
 
 
0 #2 Chào chú KiênCháu Nhung 15-05-2015 09:37
Cháu vẫn thường xuyên theo dõi và đọc hkct của chú ! lời lẽ rất thật ,rất cảm động chú ạ ! rất thương các chú cưu chien1 binh đã chịu bao nhiêu vất vả ,gian nan! Chúc chú khỏe để viết tiếp chú nhá !
Trích dẫn
 
 
0 #1 Thương quáCóng Trần 13-05-2015 13:39
Có ai ngờ rằng ngày ấy những người thân yêu lại phải chịu đựng gian khổ đến như vậy ! Thương quá !
Trích dẫn
 

Viết Bình Luận

Security code
Chọn từ khác

chi em phu nu, game, game, tin game, kgamevn, tin game thu, suc khoe tong hop, gamek, tin game hay, tin game, game viet nam, game, game, game thu viet, chi em phu nu, game, game hay, tin moi, suc khoe doi song, game thoi trang hay 2014, choi game dua xe hay, ban sung hay, tin tuc, xem phim, game mien phi, game hay nhat